Hiển thị các bài đăng có nhãn dieu-tri-benh-da-day. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dieu-tri-benh-da-day. Hiển thị tất cả bài đăng
THUỐC CHỮA BỆNH ĐAU VIÊM DẠ DÀY HIỆU QUẢ TỐT NHẤT
Tôi xin tự giới thiệu tôi là Nguyễn Đức Thiện – Chủ tịch hội đồng sáng lập Đề án thành lập Bệnh viện tiêu hóa trực tràng Đông y Việt Nam, trong bài viết này tôi xin chia sẻ với quý vị những kiến thức cơ bản trong điều trị các chứng bệnh viêm dạ dày đồng thời cung cấp một số phương pháp điều trị an toàn với chi phí hợp lý dưới góc độ chuyên môn.
Sở dĩ tôi đặt tiêu đề “Một sự lãng phí ghê ghớm”là vì trên thực tế tôi thấy có quá nhiều người bỏ công sức, tiền của, thời gian để điều trị căn bệnh viêm dạ dày trong khi chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng những dược liệu hay bài thuốc rẻ tiền an toàn mà hiệu quả tuyệt đối do cha ông ta để lại.
>>Chữa viêm loét xung huyết dạ dày bằng nghệ
Viêm dạ dày là tình trạng viêm xảy ra ở lớp niêm mạc dạ dày. Triệu chứng thường thấy của viêm dạ dày là hiện tượng đau bụng liên quan với tình trạng bất ổn. Các triệu chứng khác có thể có liên quan, chẳng hạn như chứng khó tiêu, buồn nôn, nôn, cảm giác đầy hơi . Ngoài ra nôn ra máu là một dấu hiệu của mức độ nghiêm trọng và nó có biểu hiện của xuất huyết đường tiêu hóa.
Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây bệnh viêm dạ dày. Dưới đây là một số nguyên nhân chính gây viêm dạ dày:
* Nguyên nhân do lối sống:
- Uống nhiều bia rượu.- Hút nhiều thuốc lá, uống nhiều cà phê và các đồ uống có tính axit cao.- Thường xuyên nhịn đói, hoặc ăn quá no, ăn các đồ ăn quá rắn,…
* Nguyên nhân do nhiễm các loại vi khuẩn, nấm:
- Do nhiễm nấm- Do nhiễm kí sinh trùng (thường là các loại anisakis)- Viêm dạ dày do vi khuẩn (thường là Helicobacter pylori)
* Nguyên nhân khác:
- Do điều trị thuốc kháng sinh lâu dài.- Do đã trải qua quá trình xạ trị hoặc xạ trị ngẫu nhiên.- Thiếu máu ác tính là một trong những nguyên nhân của- viêm dạ dày- Do có chấn thương trong dạ dày hoặc có phẫu thuật trong dạ dày- Tăng tiết acid dạ dày thường xảy ra khi bị căng thẳng- Hiện tượng trào ngược dịch mật
* Các chứng viêm dạ dày thường gặp như:
- Đau dạ dày
- Viêm loét dạ dày
- Viêm xung huyết dạ dày ( xuất huyết dạ dày )
- Viêm trượt dạ dày
- Trào ngược dạ dày
- Dối loạn tiêu hóa
- Viêm hành tá tràng
- Viêm thực quản
Ở Việt Nam hiện nay tình trạng mắc phải bệnh viêm dạ dày khá phổ biến với cả nam và nữ. Điều trị bằng phương pháp nào để đạt hiệu quả và an toàn vẫn là vấn đề mà các nhà nghiên cứu y học cả đông và tây y rất quan tâm. Thực trạng hiện nay thường áp dụng các phương pháp điều trị như sau:
Cách 1: Khi người bệnh chớm xuất hiện các các triệu chứng về bệnh viêm dạ dày, người bệnh thường có tâm lí thờ ơ với bệnh chỉ cho là đau bụng đơn giản, ban đầu người bệnh thường tìm đến các phương pháp lưu truyền hiện nay như sử dụng mật ong, nghệ đen, nghệ vàng, dạ dày nhím … uống nhằm giảm thiểu các cơn đau và có hi vọng chữa khỏi.Ưu điểm: Đều là những sản phẩm từ tự nhiên vì vậy khi người bệnh sử dụng mang lại tính an toàn cao và với chi phí thấp.Nhược điểm: Khó thực hiện, thời gian điều trị quá dài, không phải ai cũng có thời gian để duy trì lâu dài, các triệu chứng giảm không đáng kể, việc sử dụng lâu dài mà không có kết quả, như vậy gây nên tình trạng bệnh phát triển ngày một nặng thêm.
Cách 2: Sau một loạt các phương pháp điều trị lưu truyền mà bệnh vẫn không khỏi người bệnh không còn mặn mà với phương pháp điều trị trên nữa mà chuyển sang sử dụng thực phẩm chức năng được quảng cáo nhan nhản trên các phương tiện truyền thông là an toàn và hiệu quả cao như : Curcumin 50g, Tràng vị khang, Hương sa lục quân, Đại tràng hoàn-P/H, Bio Curmin… vv.
Ưu điểm: dễ mua dễ sử dụng, sản phẩm là những viên nang dùng để uống hằng ngày.Nhược điểm: Tình trạng bệnh gần như không thuyên giảm hoặc giảm không đáng kể ( vì đó chỉ là thực phẩm chức năng hỗ trợ trong việc điều trị chứ không có tác dụng điều trị bệnh ), chi phí điều trị cao, thời gian điều trị kéo dài từ 3 đến 9 tháng.
Cách 3: Quá trình điều trị dài mà không có hiệu quả, có thể nói với suy nghĩ có bệnh thì vái tứ phương, người bệnh đã trải qua các phương pháp chữa trị ai mách gì làm đấy dẫn đến tình trạng bệnh đã không khỏi lại ngày càng phức tạp hơn.Trong tâm trạng đó người bệnh thường được khuyên đến các bệnh viện công lập hoặc chuyên khoa của các bệnh viện đa khoa để khám và điều trị. Tại Việt Nam các bác sĩ sau khi có kết luận chính thức từ việc đưa ống vào nội soi, người bệnh thường được các bác sĩ kê đơn thuốc, tùy từng loại bệnh và mức độ mà các bác sĩ sẽ kê: Cimetidin, nizatidine, famotidine;lanzoprazole…về điều trị tại nhà.
Ưu điểm: Việc chữa trị trong các chuyên khoa hoặc bệnh viện công lập giúp bệnh nhân yên tâm về mặt tâm lí do ở Việt Nam thường có tâm lí tin tưởng bác sĩ ở các bệnh viện công lập.Nhược điểm: Với hàm lượng dược lý mạnh những thuốc này có tác dụng ức chế cơn đau tức thời, cơn đau giảm một cách rõ rệt trong những ngày đầu và giảm hẳn trong khoảng 10 đến 15 ngày đi kèm với ăn kiêng ( chủ yếu là cháo loãng ). Quá trình ngưng sử dụng thuốc người bệnh trở về với cuộc sống và công việc hằng ngày, chế độ ăn uống cũng cẩn thận hơn không dám ăn những đồ cay nóng, chua, chất kích thích…Quá trình này thường không kéo dài vì khi đã khỏi bệnh người bệnh thường có tâm lí chủ quan hoặc do môi trường công việc (thường xuyên phải uống rượu bia tiếp khách, thức khuya suy nghĩ về áp lực công việc) dần dần các cơn đau âm ỉ bắt đầu xuất hiện trở lại, người bệnh hoang mang lo lắng không biết giải quyết thế nào vì đã chữa ở bệnh viện của nhà nước mà không khỏi dứt điểm ?
Cách 4: Việc điều trị ở các chuyên khoa không khỏi khiến người bệnh mất niềm tin hoàn toàn về các chuyên khoa của nhà nước. Lúc này qua các phương tiện thông tin đại chúng tivi báo đài người bệnh biết đến các phòng khám đa khoa tư nhân như: Phòng khám Kim Giang; Phòng khám Bạch Mai, phòng khám Kim Mã, phòng khám Năm Châu…Việc thông tin quảng cáo thiếu sự kiểm soát của các cơ quan chức năng khiến cho người bệnh lầm tưởng đây là những địa chỉ chữa bệnh dạ dày giỏi nhất Việt Nam và nhất cả thế giới: chữa trong vài ba ngày khỏi hoàn toàn; chữa một lần khỏi dứt điểm không tái phát…
Ưu điểm: Thái độ phục vụ nhiệt tình, thân thiện, quan hệ giữa các bác sĩ và bệnh nhân khá tốt trong quá trình điều trị.Nhược điểm: Việc điều trị tại những phòng khám này ngoài những tân dược đã nêu ở trên một số phòng khám còn sử dụng những tá dược mạnh không rõ nguồn gốc và có nhiều phản ứng phụ tới gan, thận và mật…Chi phí điều trị cho một ca bệnh dạ dày thường từ 5 đến 10 triệu. Một chi phí quá cao so với mức sống của đại bộ phận người dân hiện nay. Kết quả không khỏi người bệnh đòi rút lại tiền như cam kết thì bị gây khó dễ (các phòng khám thường đưa ra hang trăm lí do để trả một phần nào đó: tiền công, tiền thuốc, tư vấn… )
Cách 5: Tin tưởng vào lời quảng cáo nhưng không khỏi bệnh hoặc bị tái phát nhanh chóng người bệnh không biết tin vào ai nữa. Lúc này ai mách gì chữa nấy theo thói quen có bệnh thì vái tứ phương người bệnh tự chữa ở nhà hoặc đi chữa ở các nhà thuốc gia truyền, những thầy Lang trong vùng…Tùy vào trình độ của từng nhà thuốc và thầy Lang mà bệnh có thể khỏi hoặc tạm dứt nhưng thường không được lâu.
Trên đây tôi nêu một số nhìn nhận và đánh giá về các phương pháp điều trị viêm dạ dày dưới góc độ chuyên môn. Những đánh giá có thể chưa lột tả hết được nhưng cũng phần nào giúp quý vị hiểu biết căn bản về thực trạng điều trị căn bệnh này ở nước ta.
Với mong muốn giúp gần 10 triệu người mắc chứng bệnh viêm dạ dày (theo thống kê của ngành tiêu hóa trực tràng Việt Nam) thoát khỏi căn bệnh này với hiệu quả cao nhất, chi phí rẻ nhất và phương pháp an toàn nhất, người viết bài này xin gửi tới quý vị một công trình nghiên cứu bài thuốc dân gian của Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Thuốc Dân Tộc trong đề án quốc gia về Ứng dụng các dược liệu quý trong điều trị chứng bệnh viêm dạ dày tại Việt Nam.
Tên bài thuốc: "Thảo dược đông y đặc trị viêm dạ dày"
Thành phần: Bạch thược, Thanh diệp hành, Nghệ vàng, Cam thảo dây, Nghệ đen, Thanh bì, Chuối hoa rừng, Tam thất, Địa du, Đương quy, Thăng ma, Sài hồ và một số thảo dược quý ... vv
Công dụng: Cầm máu, giảm đau viêm, ợ hơi, ợ chua, thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, hoạt huyết, hoạt trường, điều huyết, thông kinh. Giúp bảo vệ và tăng sức bền của thành tĩnh mạch, tăng cường sức khỏe tĩnh mạch dạ dày, nhuận tràng thông đại tiện, chống táo bón.
Bài thuốc đặc biệt chủ trị chứng các chứng bệnh viêm dạ dày như: Đau dạ dày, viêm loét dạ dày, viêm xung huyết dạ dày, xuất huyết dạ dày, viêm trượt dạ dày, trào ngược thực quản dạ dày, dối loạn tiêu hóa …vv
Thưa quý vị!
Thông thường khi mắc phải chứng bệnh viêm dạ dày chúng ta thường đi tìm những thực phẩm chức năng phần nào hỗ trợ điều trị hoặc thuốc tây y để điều trị mà quên mất rằng cha ông ta từ ngàn đời nay đã dùng những dược liệu quý ngay xung quanh chúng ta để điều trị, vừa hiệu quả vừa an toàn lại ít tốn kém, với suy nghĩ đó đã thôi thúc các nhà khoa học của Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Thuốc Dân Tộc ngày đêm miệt mài nghiên cứu, thử nghiệm và cho ra đời công thức chữa viêm dạ dày đặc hiệu dựa trên những bài thuốc dân gian bí truyền nhưng có thay đổi để phù hợp hơn với từng cơ địa và môi trường sống hiện đại ngày nay.
Được sự cho phép của Trung tâm, người viết bài xin đi sâu phân tích công dụng của từng thành phần trong bài thuốc dân gian:
Thanh Bì: Vị đắng cay, tính ôn. Qui kinh, Thanh bì có tác dụng sơ can phá khí, tán kết tiêu trệ. Chủ trị các chứng can khí uất trệ, nhũ phòng căng đau, sán khí đau đớn, thực tích khí trệ, ngoài ra còn có tác dụng ức chế mạnh cơ trơn của ruột nên chống co thắt, tác dụng của thuốc là trực tiếp lên cơ trơn. So sánh với Trần bì thì Thanh bì làm giãn cơ trơn của ruột mạnh hơn.
Bạch Thược: có tác dụng dưỡng huyết, liễm âm, hòa can chỉ thống. Chủ trị các chứng can huyết hư, cơ thể hư nhược, nhiều mồ hôi, kinh nguyệt không đều, các chứng bệnh dạ dày, thai sản, các chứng âm huyết hư, can dương thịnh, can phong động, các chứng đau do bệnh của can. Ngoài ra bạch thược còn chủ trị các chứng táo bón kinh niên, trị viêm loét, xung huyết dạ dày, trị các chứng đau bụng.
Thanh Diệp Hành: có tác dụng như một kháng sinh có thể đẩy một số loại vi khuẩn có hại ra ngoài dạ dày như vi khuẩn lị, amip...vv.
Nghệ vàng: có tác dụng chống loét dạ dày, giảm tiết dịch vị dạ dày và nhờ tinh dầu nghệ có tính kiềm nên giúp làm giảm độ acid của dịch vị, nghệ vàng còn có tác dụng chống viêm và làm lành vết loét nên dân gian hay dùng chung với mật ong để chữa viêm loét dạ dày do thừa dịch vị.
Cam thảo dây: Cam thảo kích thích sự phòng thủ của cơ thể để ngăn chặn sự hình thành các vết loét. Đặc biệt nhiều thầy thuốc còn tín nhiệm cam thảo hơn hẳn các thuốc loại thuốc kháng axit khác trong điều trị viêm loét dạ dày.
Nghệ đen: Có tác dụng phá ứ, tiêu tích. nghệ đen còn có tác dụng bế kinh, kinh nguyệt không đều, ăn uống khó tiêu, đầu bụng, nôn mửa.
Chuối hoa rừng: Chưa có tài liệu nghiên cứu cụ thể nhưng trong dân gian thường dùng quả chuối hoa rừng làm vị phụ tá rất cần thiết trong điều trị chứng viêm loét dạ dày, tá tràng và dùng cho một số bệnh chứng khác như phong thấp v.v…
Tam thất: Tam thất có vị ngọt, hơi đắng, tính ôn, vào Kinh, Can, Vị, Tâm, Phế, Đại tràng. Có tác dụng hoá ứ, cầm máu (chữa thổ huyết, băng huyết, rong huyết, sau đẻ máu hôi không ra hết, lỵ ra máu), tiêu thũng, giảm đau, bổ khí huyết, đau tức ngực, u bướu, huyết ứ, bế kinh, thống kinh, sản hậu huyết hư gây đau bụng, ung nhọt, sưng do chấn thương, thiếu máu nặng, mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, ngủ ít. Kinh nghiệm dân gian Tam thất có thể chữa được một số trường hợp ung thư (ung thư vú, ung thư máu…).
Địa du: Được dùng cả trong Đông y và Tây y. Tây y dùng để cầm máu, giúp sự tiêu hoá, rửa các vết loét. Đông y dùng để cầm máu trong các trường hợp: nôn ra máu, chảy máu dạ dày, trị tiêu ra máu, kiết lỵ ra máu, rong kinh do huyết nhiệt, bỏng do nóng…
Đương quy: Tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, nhuận táo, hoạt trường, điều huyết, thông kinh. Ngoài ra, có tác dụng chữa bệnh kinh nguyệt không điều, đau bụng khi thấy kinh, người thiếu máu, tay chân đau nhức và lạnh.
Thăng ma: Tác dụng thăng khí (làm lưu thông khí huyết) chữa các chứng sa giáng (sa dạ dày, dạ con, trực tràng…), nhức đầu nóng rét, đau họng, mụn lở trong miệng, tả lỵ lâu ngày, ban sởi không mọc hết, hạ nhiệt, giảm đau, chống viêm, chống co giật, giải độc.
Sài hồ: vị đắng, tính mát; Có tác dụng tán nhiệt giải biểu, làm thông lợi gan, giảm đau, thăng cử dương khí và cắt cơn sốt rét. Dùng cho trường hợp sốt nóng, sốt rét, cảm cúm (hàn nhiệt vãng lai), đau vùng ngực bụng, kinh nguyệt không đều, trung khí hạ hãm (các loại thoát vị, sa dạ dày, ruột, tử cung, sổ bụng), viêm gan mạn tính, sốt rét cơn.
Dựa trên những phân tích hết sức khoa học trên đây có thể thấy bài thuốc dân gian “ Thảo dược đông y trị viêm dạ dày” của trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thuốc dân tộc có tác dụng hiệu quả trong điều trị các chứng bệnh về dạ dày: đau dạ dày, viêm xung huyết dạ dày, xuất huyết dạ dày, viêm loét dạ dày, viêm trượt dạ dày, trào ngược dạ dày…
Công trình nghiên cứu đã từng được áp dụng năm 2008 với 200 trường hợp kết quả như sau:
- 176 người khỏi hoàn toàn với thời gian điều trị trên dưới 70 ngày: các vết viêm lành hẳn sau khi nội soi kiểm tra lại.- 21 người khỏi bệnh với thời gian 90 ngày do tình trạng viêm loét quá nặng và lạm dụng quá nhiều thuốc tây y nhưng không khỏi gây ra tình trạng nhờn thuốc.- 3 người giữ nguyên tình trạng bệnh, nguyên nhân do không kiêng được các chất kích thích, đồ cay nóng như: bia rượi, thuốc lá, café…vv
Từ những kết quả khả quan như trên bài thuốc đã được sử dụng rộng rãi và giúp cho gần 5000 người chữa khỏi chứng bệnh viêm dạ dày khắp ba miền Bắc Trung Nam và cả người nước ngoài.
Trên đây là những ý kiến đánh giá dưới góc độ chuyên môn giúp cho nhiều người biết đến bài thuốc để chữa trị, giảm thiểu chi phí, thời gian chữa trị và an toàn tuyệt đối.
Theo sức khỏe và đời sống
Trong thời gian qua Ban biên tập Cổng thông tin khoa học Bác sĩ dạ dày nhận được rất nhiều câu hỏi về Thảo dược đông y trị bệnh viêm dạ dày. Để bạn đọc có thể hiểu thêm về sản phẩm. Ban biên tập đã liên lạc và được Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng thuốc dân tộc đã đồng ý cung cấp số điện thoại tư vấn điều trị bệnh viêm dạ dày bằng thảo dược đông y. Email: thaoduocdongy@gmail.com Cơ sở 1: Tầng 5, Tòa nhà Viettinbank, Số 91, Đường Nguyễn Xiển, Quận Thanh Xuân, TP Hà Nội Cơ sở 2 : Số 1, Ngõ 66, Đường Hoàng Ngân, Quận Cầu Giấy, TP Hà Nội |
Bài thuốc cổ truyền chữa bệnh viêm loét dạ dày
Các vị thuốc:
1. Nghệ vàng, còn gọi là khương hoàng, uất kim.
2. Sắn dây còn gọi là cát căn, cam cát căn.
3. Quả chuối hột, chuối chát, xanh, non.
Ba vị bằng nhau, rửa sạch, thái mỏng phơi khô, sao dòn, tán bột mịn trộn đều, cất nơi khô ráo. (Nếu không trồng củ sắn dây thì dùng bột sắn dây thay thế, nghiền mịn trộn đều với các vị trên).
4. Mật ong tốt 1-2 lít.
Cách dùng và liều lượng:
1. Trước 3 bữa ăn, lấy 1 cái cốc sạch cho vào 150 ml nước sôi để nguôi. Cho 3 muỗng cà phê (15g) bột thuốc và 1 thìa cà phê mật ong (10 cc) khuấy cho thuốc tan đều.
2. Sau khi ăn xong thì uống cốc thuốc này, trước khi uống nước. Uống 1 ngày 3 lần sau 3 bữa ăn. Sáng - trưa - tối.
Hiệu quả điều trị:
1. Chứng viêm dạ dày (viêm hang vị, niêm mạc, cuống dạ dày và hành tá tràng): Uống liên tục từ 30-45 ngày có hiệu quả.
2. Chứng loét dạ dày hành tá tràng: Phải uống liên tục từ 90 ngày đến 120 ngày có hiệu quả lành vết thương.
Có khá nhiều người đã dùng đều đạt kết quả.
Cần lưu ý: Trước khi dùng thuốc phải nội soi, chụp X.quang để biết rõ chứng trạng và sau khi dùng thuốc nên nội soi hoặc chụp X.quang lại để thấy hiệu quả. Phải chuẩn bị đủ thuốc để uống liên tục, đừng uống gián đoạn, hiệu quả sẽ giảm.
Tìm hiểu tính năng tác dụng các vị thuốc, theo tài liệu cổ:
1. Nghệ vàng: Vị cay, đắng, tính ôn vào 2 kinh can và tỳ. Có tác dụng: Phá ác huyết, huyết tích, kim sang và sinh cơ, chỉ huyết. Thường dùng trong bệnh đau dạ dày, vàng da, phụ nữ sinh xong đau bụng. Đàn bà có thai không nên dùng.
2. Sắn dây (bột sắn dây): vị ngọt, cay, tính bình vào 2 kinh tỳ và vị. Có tác dụng giải cơ, thoái nhiệt, sinh tân, chỉ khát.
3. Mật ong: Bách hoa tinh. Vị ngọt tính bình, vào 5 kinh: Tâm, phế, tỳ, vị và đại tràng.
Có tác dụng: Thanh nhiệt, bổ trung, nhuận táo, hoạt trường giải độc, hết đau. Chữa bệnh loét dạ dày và ruột, an thần chữa nhức đầu, ho khan, viêm họng.
4. Chuối hột : chưa có tài liệu nghiên cứu cụ thể nhưng trong dân gian thường dùng quả chuối hột làm vị phụ tá rất cần thiết trong điều trị chứng viêm loét dạ dày, tá tràng và dùng cho một số bệnh chứng khác như phong thấp v.v…
Lưu ý:
- Trong ăn uống kiêng mỡ động vật, các chất kích thích: Rượu bia, thuốc lá, cay, nóng, ăn các thức ăn mềm. Nếu xét thấy không kiêng được thì đừng dùng thuốc này vì kém hiệu quả có khi phản tác dụng.
- Dùng củ sắn dây thái phơi khô, xay bột tốt hơn dùng bột sắn dây.
1. Nghệ vàng, còn gọi là khương hoàng, uất kim.
2. Sắn dây còn gọi là cát căn, cam cát căn.
3. Quả chuối hột, chuối chát, xanh, non.
Ba vị bằng nhau, rửa sạch, thái mỏng phơi khô, sao dòn, tán bột mịn trộn đều, cất nơi khô ráo. (Nếu không trồng củ sắn dây thì dùng bột sắn dây thay thế, nghiền mịn trộn đều với các vị trên).
4. Mật ong tốt 1-2 lít.
Cách dùng và liều lượng:
1. Trước 3 bữa ăn, lấy 1 cái cốc sạch cho vào 150 ml nước sôi để nguôi. Cho 3 muỗng cà phê (15g) bột thuốc và 1 thìa cà phê mật ong (10 cc) khuấy cho thuốc tan đều.
2. Sau khi ăn xong thì uống cốc thuốc này, trước khi uống nước. Uống 1 ngày 3 lần sau 3 bữa ăn. Sáng - trưa - tối.
Hiệu quả điều trị:
1. Chứng viêm dạ dày (viêm hang vị, niêm mạc, cuống dạ dày và hành tá tràng): Uống liên tục từ 30-45 ngày có hiệu quả.
2. Chứng loét dạ dày hành tá tràng: Phải uống liên tục từ 90 ngày đến 120 ngày có hiệu quả lành vết thương.
Có khá nhiều người đã dùng đều đạt kết quả.
Cần lưu ý: Trước khi dùng thuốc phải nội soi, chụp X.quang để biết rõ chứng trạng và sau khi dùng thuốc nên nội soi hoặc chụp X.quang lại để thấy hiệu quả. Phải chuẩn bị đủ thuốc để uống liên tục, đừng uống gián đoạn, hiệu quả sẽ giảm.
Tìm hiểu tính năng tác dụng các vị thuốc, theo tài liệu cổ:
1. Nghệ vàng: Vị cay, đắng, tính ôn vào 2 kinh can và tỳ. Có tác dụng: Phá ác huyết, huyết tích, kim sang và sinh cơ, chỉ huyết. Thường dùng trong bệnh đau dạ dày, vàng da, phụ nữ sinh xong đau bụng. Đàn bà có thai không nên dùng.
2. Sắn dây (bột sắn dây): vị ngọt, cay, tính bình vào 2 kinh tỳ và vị. Có tác dụng giải cơ, thoái nhiệt, sinh tân, chỉ khát.
3. Mật ong: Bách hoa tinh. Vị ngọt tính bình, vào 5 kinh: Tâm, phế, tỳ, vị và đại tràng.
Có tác dụng: Thanh nhiệt, bổ trung, nhuận táo, hoạt trường giải độc, hết đau. Chữa bệnh loét dạ dày và ruột, an thần chữa nhức đầu, ho khan, viêm họng.
4. Chuối hột : chưa có tài liệu nghiên cứu cụ thể nhưng trong dân gian thường dùng quả chuối hột làm vị phụ tá rất cần thiết trong điều trị chứng viêm loét dạ dày, tá tràng và dùng cho một số bệnh chứng khác như phong thấp v.v…
Lưu ý:
- Trong ăn uống kiêng mỡ động vật, các chất kích thích: Rượu bia, thuốc lá, cay, nóng, ăn các thức ăn mềm. Nếu xét thấy không kiêng được thì đừng dùng thuốc này vì kém hiệu quả có khi phản tác dụng.
- Dùng củ sắn dây thái phơi khô, xay bột tốt hơn dùng bột sắn dây.
Lương y Trần Văn Thà
09:04 | Nhãn: dieu-tri-benh-da-day, kien-thuc-co-ban-benh-da-day | 0 Comments
Chữa bệnh đau viêm dạ dày bằng dạ dày nhím
Nhím cũng có nhiều tên như dím, hào chư, cao chư, sơn chư hay loan chư, tên khoa học Hystrix hodgsoni. Là loại sống hoang dã ở vùng rừng núi nước ta. Thường được dân thổ cư săn bắt ăn thịt và làm thuốc. Thịt nhím nạc ngon và bổ dưỡng nên đã được thuần dưỡng ở nhiều vùng để cung cấp nguồn thịt cho ẩm thực.
Thông thường người ta hay sử dụng dạ dày nhím để làm thuốc trị bệnh đau dạ dày gọi với tên thuốc là "Hào trư đỗ" (Corium Hystrici) của loại nhím Hystixhodgsoni. Theo Đông y, dạ dày nhím có vị đắng ngọt, tính bình; song trong Bản thảo cương mục Lý Thời Trân nói vị ngọt, tính hàn không độc. Quy vào kinh vị và đại tràng. Có tác dụng lương huyết, mát máu, làm hết đau, trĩ lậu ra huyết. Được trị đau dạ dày, chứng lòi chứng trĩ dom chảy máu, di mộng tinh, nôn mửa, giải độc, lỵ ra máu... Liều dùng cho dạng sắc hay tán trung bình từ 6 - 16g/ngày. Ngoài ra, người ta còn lấy da nhím làm thuốc với tên thuốc là "Thích vị bì", còn thịt nhím có vị ngọt, tính lạnh có tác dụng bổ dưỡng, nhuận tràng. Lông nhím Hào trư mao thích có vị cay, tính ấm có công năng hành khí chỉ thống, giải độc, chữa viêm tai giữa. Mật nhím dùng để chữa đau lưng và xoa bóp khi bị chấn thương. Ruột già, gan, phổi và cả phân nhím còn dùng để trị phong nhiệt...
Xin giới thiệu một số món ăn bài thuốc trị liệu có sử dụng từ dạ dày nhím:
Trị chứng đau dạ dày: dạ dày nhím để nguyên cả thức ăn có trong (được nhím rừng là tốt nhất) phơi rồi sấy khô, thái nhỏ sao chín tán bột, mỗi lần uống 10g vào lúc đói bụng và chiêu với nước cơm. Có thể lấy bột dạ dày nhím trộn với mật ong và bột nghệ với lượng mỗi thứ như nhau uống càng tốt, uống trước khi ăn.
Trị lòi dom chảy máu: dạ dày nhím sao phồng, tán bột mịn. Hoa hòe 10g sắc lấy nước để chiêu với bột dạ dày nhím đã tán mỗi ngày 3 lần (chia liều từ 3 - 6g làm 3 phần mà uống). Cần kiêng những thứ cay, nóng như: ớt, hồ tiêu, gừng, tỏi, hành, rượu, không dùng chè đặc, cà phê, hút thuốc lá... Cần ăn những thứ nhuận tràng như chuối tiêu, đu đủ, rau lang, rau đay, rau mồng tơi...
Trị ngộ độc: dạ dày nhím 1 cái sấy khô, tán bột. Gạo nếp cẩm 100g rang vàng tán bột, sau trộn đều hai thứ bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 10g.
Chữa thủy thũng, hoàng đản (kể cả khi có cổ trướng): đốt tồn tính dạ dày nhím, tán bột, mỗi lần uống 8g hòa với rượu uống.
Bác sĩ dạ dày
02:18 | Nhãn: -viem-da-day, benh-da-day, dieu-tri-benh-da-day, san-pham-dieu-tri | 0 Comments
Chữa bệnh trào ngược dạ dày bằng hạt sen và long nhãn
Trào ngược dạ dày – thực quản là chỉ sự trào ngược dịch ở dạ dày lên thực quản, chủ yếu là do những rối loạn tăng kích thích ở ống tiêu hóa.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến trào ngược dạ dày – thực quản: Do thức ăn lạ, thức ăn không phù hợp; do thần kinh bị căng thẳng; do mộc khắc thổ quá mạnh; do tỳ khí, vị khí không được điều hòa… Đông y có nhiều bài thuốc trị theo từng thể:
Trào ngược dạ dày – thực quản do thần kinh căng thẳng (stress): Thần kinh căng thẳng ảnh hưởng đến chức năng sinh lý của tì vị, gây đau vùng thượng vị, ợ hơi, ợ nóng, khí ở trung tiêu ngược lên, vùng ngực và vùng thượng vị bức bách kèm theo khó thở, ăn ít, tiêu hóa trì trệ, bụng đầy hơi… Dùng một trong các bài:
Bài 1: hoài sơn, liên nhục, cát căn mỗi vị 16g, hắc táo nhân 20g, viễn chí 12g, bán hạ chế 10g, ngưu tất 16g, trần bì 12g, chỉ xác 10g, phòng sâm 20g, bạch truật 16g, cam thảo 12g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, ngày uống 2 lần sau bữa ăn.
Bài 2: thảo quyết minh (sao vàng) 16g, hắc táo nhân 20g, mẫu lệ chế 16g, bạch linh 10g, bán hạ 10g, hậu phác 10g, trần bì 12g, chỉ xác 8g, bạch biển đậu 20g, hạt sen 20g, long nhãn 16g, phòng sâm 16g, đại táo 5 quả, cam thảo 12g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, ngày uống 2 lần sau bữa ăn.
Trào ngược dạ dày – thực quản do thức ăn lạ, thức ăn không phù hợp: Người bệnh ợ hơi, buồn nôn hoặc nôn, bụng đầy hơi, đau từng cơn hoặc đau liên miên, khí ở trung tiêu chạy ngược, vùng thượng vị đầy tức khó chịu… Dùng 1 trong các bài:
Bài 1: tía tô 16g, cây ngũ sắc (sao vàng hạ thổ) 16g, xương bồ 12g, hoàng kỳ 15g, hoài sơn 16g, biển đậu 16g, chỉ xác 10g, trần bì 10g, bạch truật (sao hàng thổ) 16g, đương qui 12g, sâm đại hành 16g, lá đắng 16g, lá lốt 12g, sinh khung 4g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, ngày uống 2 lần sau bữa ăn.
Bài 2: hoài sơn, liên nhục, ngũ gia bì mỗi vị 16g, tía tô 20g, bạch truật 16g, lương khung 12g, cam thảo 10g, phòng sâm 16g, chỉ xác 8g, bán hạ 10g, sinh khương 4g, cây ngũ sắc (sao vàng hạ thổ) 16g, bạch linh 12g, thủ ô chế 12g, lá đinh lăng (sao thơm) 12g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, ngày uống 2 lần sau bữa ăn.
Trào ngược dạ dày – thực quản do can mộc khắc tỳ thổ quá mạnh: Đau tức vùng thượng vị, nhu động ở dạ dày tăng lên từng đợt, ngực sườn trướng đầy, ợ hơi, ợ nóng, người bệnh khó chịu, bực bội, tỳ khí và vị khí không lưu thoát, người bệnh chán ăn, mất ngủ. Phép điều trị: bổ thổ bình can, điều khí. Dùng 1 trong các bài:
Bài 1: rau má 20g, bạch thược 12g, chi tử 10g, đan bì 12g, râu bắp 12g, mã đề 16g, bán hạ 10g, hậu phác 10g, bạch truật 16g, đương quy 16g, trần bì 10g, cam thảo 16g, hoài sơn 16g, liên nhục 16g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, ngày uống 2 lần sáng và chiều, uống trước bữa ăn.
Bài 2: tang diệp, mã đề, rau má mỗi vị 20g, cỏ mực 16g, bạch thược 12g, hạ liên châu 10g, hậu phác 10g, bán hạ 10g, hoài sơn 16g, phòng sâm 16g, củ đinh lăng 16g, đương quy 16g, bạch truật 16g, hắc táo nhân 16g, chỉ xác 8g, thục địa 12g, trần bì 10g, cam thảo 12g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, ngày uống 2 lần trước bữa ăn.
03:29 | Nhãn: -viem-da-day, benh-da-day, dieu-tri-benh-da-day, san-pham-dieu-tri | 0 Comments
Chữa viêm loét dạ dày tá tràng bằng vị thuốc Sa Nhân
Viêm loét dạ dày gồm các cơn đau do viêm hoặc loét dạ dày hoặc tá tràng. Bệnh thường biểu hiện qua các triệu chứng đầy bụng, ăn khó tiêu, đau vùng thượng vị, có thể đau lan ra hông sườn, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn. Sa nhân là một trong những vị thuốc điều trị viêm loét dạ dày hiệu quả.
Sa nhân thuộc họ gừng, có nhiều loại, Đông y thường sử dụng chủ yếu là hai loài sa nhân tím và sa nhân trắng vì có giá trị dược liệu cao. Cây mọc hoang ở các tỉnh trung du và miền núi, thường gặp thành vạt lớn ở chỗ ẩm mát, nhiều mùn như thung lũng, ven suối, bờ nương rẫy. Đặc điểm chung là loại cây thảo, sống lâu năm. Lá mọc so le thành hai dãy, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt, lưỡi hẹ mỏng, nhìn qua gần giống cây riềng. Thân rễ mảnh, mọc bò lan, các rễ đan vào nhau thành mạng lưới rất chắc. Mùa ra hoa khoảng tháng 5 – 6, quả hình cầu hoặc hình bầu dục, có gai mềm, hạt hình nhiều cạnh, mùa quả tháng 7 – 8.
Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là quả thu hái vào mùa hè thu. Quả sa nhân chín trong thời gian ngắn khoảng 20 ngày, quả vừa chín màu đỏ hay tím, nhân hạt to mẩy là những quả bóp thấy cay nhiều và nóng, khi tươi hơi chua. Nếu hái quá muộn, chỉ cần để quá 5 – 7 ngày, quả bóc ra đã mềm, nhấm thấy ngọt, chất cay đã hết, đó là sa nhân đường, kém giá trị hơn vì ít tinh dầu, khó bảo quản, dễ bị ẩm mốc. Nhưng nếu hái sớm quá, quả còn non, bóc ra hạt vẫn còn non trắng hay hơi vàng, nhấm thấy cay nhưng không chua, cũng kém giá trị. Để đạt chất lượng dược liệu quả sa nhân hái đúng tuổi phải đựơc chế biến ngay, tránh quả bị thối hỏng, khi hái để cả chùm quả, hoặc phơi sấy trong 5 ngày đêm là được.
Sa nhân là thuốc có vị cay, tính ấm, đi vào 2 kinh tỳ và vị có tác dụng hành khí, hóa thấp, kiện tỳ, ôn trung chỉ tả, an thai. Chủ trị các chứng tỳ vị ứ trệ do thấp trở, tỳ hàn tiết tả (tiêu chảy do tạng tỳ bị lạnh)…
Một số bài thuốc sử dụng sa nhân
Hỗ trợ viêm loét dạ dày mạn tính: Sa nhân 6g; dạ dày lợn 1 cái, dạ dày rửa sạch, thái chỉ, cùng với sa nhân nấu thành món canh; ăn dạ dày và uống nước canh. Dùng 10 ngày một liệu trình.
Chữa lạnh bụng, đầy hơi, tiểu tiện không thông ở phụ nữ có thai: Sa nhân 100g tán nhỏ, vỏ quýt, vỏ vối, vỏ rụt, thanh bì, thần khúc, mạch nha mối thứ 2g tán nhỏ, rây bột mịn, trộn với mật làm viên. Mỗi lần uống với 4g với sắc lá tía tô. Dùng liền 3 – 5 ngày một liệu trình.
Hỗ trợ điều trị lỵ mạn tính, đau bụng tiêu chảy (thể hư hàn): Với biểu hiện bệnh nhân ăn ít, bụng trướng, đau liên miên, chân lạnh, thở yếu, tinh thần uể oải, người mệt mỏi, sắc mặt nhợt nhạt, nhạt miệng, không khát; đại tiện loãng lỏng: Sa nhân 6g, mộc hương 4g, đẳng sâm 10g, bán hạ 10g, bạch truật 10g, phục linh 10g, trần bì 6g, sinh khương 8g, cam thảo 3g; sắc uống trong ngày.
Thai nghén hay nôn: Sa nhân 4g, rễ gai 8g, ích mẫu 6g, hương phụ 4g, mầm cây mía 10g. Tất cả rửa sạch thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần. 5 ngày một liệu trình, tái khám lại.
Hoặc có thể dùng bài sau: Sa nhân sao qua, tán thành bột mịn; mỗi lần uống từ 2 – 4g, ngày 3 lần, uống thuốc bằng nước sắc 5 – 7 lát gừng tươi. Hoặc dùng gạo tẻ 30 – 50g, sa nhân (sao qua, nghiền mịn) 3 – 6g; gạo vo sạch nấu cháo, khi cháo chín cho bột sa nhân vào trộn đều, đun nhỏ lửa thêm một lúc nữa là được. Ăn nóng vào lúc sáng sớm và buổi tối trước khi ngủ.
Lương y Hữu Đức
Viêm xung huyết niêm mạc dạ dày
I. Định nghĩa viêm niêm mạc dạ dày
Theo các chuyên gia y học, viêm dạ dày là hậu quả của sự kích thích niêm mạc bởi các yếu tố ngoại sinh hoặc nội sinh như: nhiễm độc hóa chất, nhiễm khuẩn (vi khuẩn HP), các rối loạn miễn dịch…
Viêm niêm mạc dạ dày được chia thành 2 nhóm là viêm dạ dày cấp tính và viêm dạ dày mạn tính. Mỗi nhóm có những đặc điểm riêng. Trong thực tế khám và chữa bệnh hằng ngày, các thầy thuốc gặp chủ yếu là viêm dạ dày mạn tính.
1. Định nghĩa
Viêm dạ dày cấp tính chính là tình trạng viêm cấp tính của niêm mạc dạ dày, thường có tính chất tạm thời, có thể kèm xuất huyết niêm mạc và nặng hơn có thể kèm viêm loét niêm mạc dạ dày.
2. Nguyên nhân
Các yếu tố làm tăng tiết acid dịch vị dạ dày đồng thời làm giảm sản xuất các yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày ( dịch nhày bao phủ, pepsin…), giảm lượng máu lưu thông đến dạ dày, do đó làm cho chất acid ứ đọng trong lòng dạ dày dẫn đến tổn thương niêm mạc dạ dày:
- Thuốc: Aspirin, thuốc kháng viêm không có steroid, corticoid…
- Thức ăn: thức ăn cay nóng, gây dị ứng…
- Hóa chất: Rượu, thuốc lá, ngộ độc thuốc trừ sâu, acid…
- Vi khuẩn, vi rus: trong thức ăn hoặc thường gặp nhất là HP (Helicobacter pylori)
- Stress, tia xạ…
3. Triệu chứng
Bệnh nhân bị viêm dạ dày cấp tính có thể không có triệu chứng gì nếu bệnh nhẹ. Trong trường hợp bệnh nặng hơn, bệnh nhân có thể đau bụng, nhiều nhất là vùng thượng vị, đầy chướng bụng, khó tiêu ăn mất ngon, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, nôn. Nặng hơn nữa (viêm có loét chảy máu) có thể nôn ra máu và đi cầu ra phân đen.
Tùy theo tình trạng bệnh, bệnh nhân có thể được cho làm một số xét nghiệm: công thức máu, xét nghiệm phân… Quan trọng và có ý nghĩa nhất là Nội soi dạ dày và sinh thiết niêm mạc dạ dày vùng nghi ngờ có tổn thương
4. Nguyên tắc điều trị
* Không dùng thuốc
- Hạn chế thức ăn kích thích dạ dày: rượu, thuốc lá, cafe, chè, đồ uống có ga, đồ ăn cay nóng…
- Chia làm nhiều bữa trong ngày, ăn nhẹ, thức ăn lỏng mềm, đủ dinh dưỡng
- Thể dục thể thao điều độ, ăn ngủ nghỉ đúng giờ giấc, tránh căng thẳng stress, không thức quá khuya…
- Hạn chế dùng thuốc đã kể trên
* Dùng thuốc
- Giảm tiết acid dịch vị dạ dày,
- Bao bọc bảo vệ niêm mạc dạ dày
- Diệt vi khuẩn
- Giảm đau, chống co thắt
5. Tiến triển, biến chứng
Nếu chế độ điều trị tốt, hầu hết bệnh nhân viêm dạ dày cấp cải thiện rất nhanh.
Nếu điều trị không tốt, bệnh nhân có thể bị mất máu nhiều do chảy máu rỉ rả, hay bệnh có thể diễn tiến sang viêm dạ dày mạn tính.
III. Viêm dạ dày mạn tính
1. Định nghĩa
Viêm dạ dày mạn tính là tình trạng tổn thương có tính chất kéo dài và tiến triển chậm không đặc hiệu, có thể lan toả hoặc khu trú tại một vùng của dạ dày (hang vị, môn vị, tâm vị, hoặc viêm toàn bộ niêm mạc dạ dày).
Lúc đầu là viêm phì đại, về sau là viêm teo, thường là thoái hóa teo đét các tế bào tuyến.
2. Nguyên nhân
- Sự kích thích lâu ngày của các thuốc kháng viêm không phải steroid, corticoid…
- Tình trạng nhiễm vi khuẩn H. pylori,
- Thiếu máu ác tính (còn gọi là thiếu máu tế bào khổng lồ hay thiếu hấp thu vitamin B12, một loại bệnh tự miễn),
- Thoái hóa của lớp niêm mạc dạ dày theo tuổi,
- Trào ngược dịch mật mạn tính.
- Thói quen ăn uống: Nuốt nhiều, nhanh, nhai không kỹ, bữa ăn không đúng giờ giấc, Ăn nhiều thức ăn có nhiễm chất các hoá học dùng trong nông nghiệp và kỹ nghệ thực phẩm, Ăn nhiều gia vị ( chua, cay ), uống cà phê đặc, uống rượu, hút thuốc lá lâu ngày sẽ tác động có hại cho niên mạc dạ dày và gây bệnh.
- Các yếu tố hóa – lý ( phóng xạ, quang tuyến ), một số thuốc nhuận tràng dùng kéo dài, các thuốc bột kiềm gây trung hoà dịch vị quá mức sẽ dẫn tới phản ứng đột biến tăng tiết a xít HCL làm tổn thýõng niêm mạc dạ dày.
- Suy dinh dưỡng: thiếu Fe, thiếu B12, thiếu a xít folic, vitamin C, vitamin PP, thiếu protein.
- Rối loạn nội tiết : trong suy yếu tuyến yên, bệnh Hashimoto, thiểu năng cận giáp, bệnhAddison, tiểu đường …
- Dị ứng: Một số bệnh ngoài da ( mày đay, eczema, licben…) hoặc do ăn uống
- Yếu tố miễn dịch: mới đây phát hiện thấy có các kháng thể kháng tế bào thành, kháng yếu tố nội sinh (chỉ thấy trong bệnh Biermer ), song cõ chế bệnh lý chưa rõ.
- Các rối loạn tâm lý rối loạn thần kinh thực vật, có thể gây nên viêm dạ dày và rối loạn tiêu hoá.
- Yếu tố di truyền: thấy rõ hơn cả trong bệnh Biermer (Hấp thu B12 kém )
3. Triệu chứng
- Cảm giác nặng bụng, chướng bụng, ợ hơi, nhức đầu, mặt đỏ cảm giác đắng miệng vào buổi sáng, buồn nôn, nôn, chán ăn, táo lỏng thất thường.
- Nóng rát vùng thượng vị : xuất hiện sau hoặc trong khi ăn, đặc biệt rõ sau ăn uống một số thứ như : bia, rýợu, vang trắng, gia vị cay, chua hoặc ngọt. Sau ăn mỡ xuất hiện nóng rát có thể là do trào ngược dịch mật vào dạ dày. Có một số trường hợp nóng rát xuất hiện muộn sau bữa ăn.
- Đau vùng thượng vị : Không đau dữ dội, thường chỉ là cảm giác khó chịu, âm ỉ thường xuyên tăng lên sau ăn.
- Toàn trạng bệnh nhân có thể gầy đi một chút ít, da khô tróc vẩy, có vết ấn của răng trên rìa lưỡi, lở loét, chảy máu lợi, Lưỡi rêu trắng.
4. Nguyên tắc điều trị
- Điều trị các nguyên nhân nếu có,
- Bảo vệ niêm mạc dạ dày, kích thích bài tiết nhầy
- Duy trì tái sinh niêm mạc, Cải thiện tuần hoàn niêm mạc
- Điều trị chống vi khuẩn H. pylori.
- Chống co thắt,
- Chống stress
- Ăn chậm, nhai kỹ, ăn những loại thức ăn dễ tiêu, nấu chín kỹ, khoảng cách giữa các bữa ăn hợp lý, tránh loại thức ăn nhiều chất xơ, quá nóng, qua lạnh, cứng rắn. Kiêng các chất cay, chua, mỡ rán, rượu, cà phê, thuốc lá.
5. Tiến triển biến chứng
Viêm dạ dày mạn tiến triển từ từ, hình thái niêm mạc thay đổi dần dần từ viêm phì đại đến viêm teo (thể teo đơn thuần, thể teo có loạn sản) có thể gây ra một số biến chứng như: Ung thư dạ dày, Xuất huyết tiêu hoá, Viêm quanh dạ dày, tá tràng, Viêm túi mật mạn, viêm tụy mạn
11:22 | Nhãn: dieu-tri-benh-da-day, kien-thuc-co-ban-benh-da-day | 0 Comments
Bệnh dạ dày, đại tràng đối với tác dụng của gạo nếp
Gạo nếp là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, chứa protein, tinh bột, đường, vitamin nhóm B (có nhiều trong cám gạo) và chất vô cơ. Gạo nếp thường được dùng nấu xôi, chè, làm bánh (bánh khảo, bánh chưng, nếp, bánh gai, bánh nướng…). Đặc biệt, gạo nếp còn có tác dụng chữa bệnh mà ít người biết đến.
Theo Đông y, gạo nếp vị ngọt, tính ôn, vào tỳ vị và phế. Có tác dụng bổ trung, ích khí, kiện tỳ, cố biểu chỉ tả. Dùng cho các chứng tiểu đường, tự hãn, tiểu dắt, di niệu, tiêu chảy. Liều dùng hằng ngày khoảng 50 – 200g bằng cách rang, sấy, tán bột…
Gạo nếp làm thuốc
Chữa nôn mửa không ngừng: gạo nếp 20g, gừng tươi 3 lát. Gạo nếp sao vàng, sắc cùng với gừng lấy nước uống.
Chữa viêm loét dạ dày – tá tràng: gạo nếp 10g, mai mực 10g, cam thảo 10g, bằng sa phi 5g, mẫu lệ nung 10g, hoàng bá 10g, kê nội kim 10g, gừng tươi 3 lát. Sắc uống ngày 1 thang
Chữa liệt dương: cám nếp 12g, hoài sơn 12g, đinh lăng 12g, ý dĩ 12g, hoàng tinh 12g, hà thủ ô 12g, kỷ tử 12g, long nhãn 12g, trâu cổ 8g, cao ban long 8g, sa nhân 6g. Để riêng cao ban long; các vị khác sắc lấy nước, hòa tan cao và uống trong ngày.
Món ăn – bài thuốc có gạo nếp
Rượu nếp (cơm rượu): cách làm đơn giản, nấu cơm nếp lứt (gạo xay) rồi trộn với men cơm rượu, ủ vài ba hôm, qua quá trình lên men ta được cơm rượu. Mỗi ngày ăn một bát con cơm rượu có tác dụng kiện tỳ, bổ khí khai vị.
Nước gạo nếp rang: gạo nếp 1kg. Ngâm nước một ngày đêm, thay nước vài ba lần, đem vo rửa sạch, phơi nắng hoặc sấy khô, sao vàng và tán bột để sẵn. Khi dùng hòa với nước sôi, chút đường uống. Dùng cho các trường hợp nôn ói như trào ngược dạ dày – thực quản, hẹp môn vị, rối loạn do thai nghén…
Hồ bột gạo nếp, củ mài: gạo nếp 500g, củ mài 500g. Gạo nếp ngâm nước khoảng 12 tiếng, vo rửa sạch, để khô, sao tán bột. Củ mài sao qua, tán bột. Mỗi lần lấy mỗi thứ 1 thìa, thêm đường và bột hồ tiêu dùng nước sôi khuấy đều. Ăn bữa sáng khi đói. Dùng cho người cao tuổi, trẻ em ăn kém suy nhược hoặc do bệnh tiêu chảy lâu ngày ăn kém.
Chè gạo nếp, đậu đỏ: gạo nếp 50g, đậu đỏ 50g, cám gạo 50g, đường vừa ăn. Nấu thành chè ăn. Chữa bệnh tê phù.
Kiêng kỵ: người bị bệnh đàm kết, phong, nhiệt nên hạn chế dùng.
09:44 | Nhãn: Dieu-tri-benh, dieu-tri-benh-da-day, kien-thuc-co-ban-benh-da-day, san-pham-dieu-tri | 0 Comments
Bài thuốc đông y chữa bệnh đau viêm dạ dày
Vị quản thống là chỉ đau ở vùng thượng vị. Trong đó bao gồm chủ yếu là đau dạ dầy, ngoài ra còn bao gồm viêm túi mật, sỏi mật
Nguyên nhân đau dạ dày
1- Do bệnh tà phạm vị
+ Do ngoại cảm hàn tà xâm nhập vào Vị
+ Hoặc do ăn uống các thức ăn sống lạnh, hàn tích ở trong làm cho Vị đau.
+ Hoặc do Tỳ Vị đang bị hư hàn lại bị hàn tà xâm nhập gây ra đau.
+ Hoặc do ăn uống không điều độ, no đói thất thường. ăn nhiều thức ăn béo, ngọt sinh ra thấp nhiệt ở trong gây đau.
+ Hoặc do thức ăn uống đình trệ không tiêu hóa được gây đau.
+ Cũng có thể do giun gây đau.
2- Do can khí phạm vị
Do lo nghĩ uất ức làm tổn thương Can (Nộ thương Can), Can khí không sơ tiết được, phạm đến Vị, làm cho Can Vị không điều hòa, khí cơ bị uất trệ gây ra đau.
Hoặc do khí bị uất hóa thành Hỏa, hỏa uất làm tổn thương phần âm, dịch vị bị khô gây ra đau (đau ngày càng tăng hoặc đau liên miên).
3 – Do tỳ vị hư hàn
Do lao động qúa sức, no đói thất thường khiến Tỳ Vị bị tổn thương, Tỳ dương bất túc nên hàn phát sinh gây đau.
Tuy phân ra làm 3 loại như trên nhưng các sách giáo khoa đều thống nhất nguyên nhân chủ yếu là do không thông (thống tắc bất thông – đau là do không thông)
Đông y điều trị đau dạ dày
1. Đau dạ dày do khí trệ
Triệu chứng: Thường gặp trong trường hợp vừa loét dạ dầy vừa loét hành tá tràng, đau vùng thượng vị lan ra sườn, xuyên ra sau lưng, bụng đầy trướng, cự án, ợ hơi, ợ chua, lưỡi đỏ, rêu trắng hoặc vàng mỏng, mạch huyền
Pháp: Hoà can, lý khí ,sơ gan giải uất sơ can hoà vị
| Sài hồ | 8 | Bạch thược | 12 | Chỉ thực | 8 | ||
| Thanh bì | 8 | Mai mực | 12 | Huyền hồ | 8 | Hương phụ | 8 |
| Trích thảo | 4 | Xuyên khung | 8 | ||||
Đơn thuốc: Gia vị tam hương thang. (Thiên gia diệu phương)
| đau dạ dầy khỉ trệ 2 | hương phụ | 25 | Mộc hương | 5 | Hoắc hương | 15 | |
| Trần Bì | 15 | phật thủ | 15 | tam tiên | 45 | lai phục tử | 40-50 |
| Binh lang | 10 | Cam thảo | 10 | ||||
Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Với người tì hư thấp vượng, thêm Bạch truật, Phục linh;
Tì khí hư, thêm Đảng sâm;
Trung tiêu hư hàn, thêm Sa nhân, Thảo đậu khấu;
huyết ứ ở vị, thêm Bồ hoàng, Linh chi;
lưỡi chua, thì thêm Ngoã lăng tử,
vị nhiệt, thêm Sinh thạch cao, Hoàng cầm
ăn uống vẫn bình thường, thì bỏ Tam tiên, Lai phục tử;
vô tâm hạ bĩ (tắc ở bụng trên) thì bỏ Binh lang phiến;
vị âm hư thì giảm các vị lý khí một cách thích đáng, thêm Thiên hoa phấn, Thốn đông.
2. Đau dạ dày do hỏa uất
Triệu chứng: vùng thượng vị đau nhiều, đau nóng rát cự án, miệng khô, ợ chua, đắng miệng, chất lưõi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác
Pháp trị: sơ can tiết nhiệt
| Sài hồ | 8 | Bạch thược | 12 | Chỉ thực | 8 | ||
| Thanh bì | 8 | Chích thảo | 4 | Xuyên khung | 8 | Hương phụ | 8 |
| Mai mực | 12 | Huyền hồ | 8 | ||||
3. Đau dạ dày do huyết ứ
Triệu chứng: đau dữ dội ở vị trí nhất định, cự án, ấn vào đau tăng thêm, ấn vào khó chịu, chia làm hai loại thực chứng và hư chứng
Thực chứng: Nôn ra máu, ỉa phân đen, môi đỏ lưỡi đỏ, rêu lưỡi đỏ mạch huyền sác, hữu lực
Hư chứng: sắc mặt xanh nhợt, người mệt, chân tay lạnh, môi nhạt chất lưỡi bệu, có điểm ứ huyết, rêu lưỡi nhuận, mạch hư đại hoặc tế sác
Pháp trị: lương huyết chỉ huyết
Pháp trị: bổ huyết chỉ huyết
| Đẳng sâm | 16 | Bạch truật | 12 | Bạch linh | 12 | ||
| Cam thảo | 6 | Hoàng kỳ | 12 | A giao | 8 | Qui đầu | 10 |
| Xuyên khung | 10 | Ngũ vị | 6 | Táo nhân | 8 | Bạch thược | 12 |
| Đại táo | 12 | Trần Bì | 6 | Kỉ tử | 12 | Sinh khương | 4 |
| Mật gấu | Mật ong | Sữa chúa | nhung | ||||
Pháp trị: Thông lạc hoạt huyết
| Sinh địa | 40 | Trắc bách diệp | 16 | A giao | 12 | ||
| Cam thảo | 6 | Bồ hoàng | 12 | Chi tử | 8 | ||
châm cứu: can du, tỳ du, thái xung, huyết hải, hợp cốc
nôn ra máu châm tạm cầm máu: nội quan, ,xích trạch túc tam lý, cách du
4. Đau dạ dày do hư hàn
Triệu chứng: Thường hành tá tràng bi loét, đau vùng thượng vị liên miên, nôn nhiều, mệt mỏi thích xoa bóp, chườm nóng, đầy bụng nôn ra nước trong , sợ lạnh, chân tay lạnh, phân nát có lúc táo, rêu lưõi trắng chất lưõi nhạt, mạch hư tế
Pháp trị: ôn trung kiện vị
| Hoàng kỳ | 60 | Quế chi | 12 | Táo | 4q | ||
| Bạch thược | 24 | Cam thảo | 12 | Sinh khương | 12 | Di đường | 50 |
| Lá khôi | 20 | ||||||
5. Đau dạ dày do hàn thấp
Triệu chứng: Vị quản đầy đau khó chịu, ăn không thấy ngon, miệng dính nhớt, đầu mình nặng nề, đại tiện lỏng nhão, hoặc tiết tả, rêu lưõi trắng nhớt, mạch nhu, ăn nhiều đồ sống lạnh, trung dương bị dồn ép, tỳ không vận hoá gây nên
Pháp trị:kiện tỳ hoá thấp,
Bài thuốc: vị linh thang
| Xương truật | 12 | Hậu phác | 10 | Tang bì | 6 | ||
| Trạch tả | 12 | Trư linh | 8 | Cam thảo | 4 | Nhục quế | 4 |
| Bạch truật | 8 | Phục linh | 8 | Sinh khương | 5 nhát | ||
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








