Hiển thị các bài đăng có nhãn viem-loet-da-day. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn viem-loet-da-day. Hiển thị tất cả bài đăng
Triệu chứng bệnh viêm loét dạ dày
Loét dạ dày là một bệnh đã được biết từ khá lâu. Bệnh xảy ra ở mọi quốc gia, và bất kỳ lứa tuổi nào cũng có thể mắc. Tỉ lệ mắc bệnh ở các nước là 1 – 3% dân số, với một người bình thường thì khả năng mắc bệnh là 10%. Nếu có các yếu tố nguy cơ khác kèm theo thì tỷ lệ này cao hơn.
| Triệu chứng bệnh viêm loét dạ dày |
Chỉ khoảng 50% bệnh nhân loét dạ dày là có triệu chứng điển hình, 40 – 45% có triệu chứng mơ hồ không điển hình, những trường hợp này rất khó chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác của dạ dày như: ung thư dạ dày. Có 5 – 10% bệnh nhân loét hoàn toàn không có triệu chứng (loét câm), hay gặp ở người lớn tuổi. Một số các triệu chứng bạn có thể nhận biết như sau:
1. Đau:
Là triệu chứng đặc biệt và thường xuyên của bệnh loét dạ dày. Thường đau ở giữa bụng trên rốn, có lan hoặc không lan ra sau lưng. Đau thường xuất hiện ngay sau khi ăn. Đau có thể phát ra theo mùa, đau tăng lên vào mùa thu và mùa đông hay mùa xuân điều này phụ thuộc vào tính cá biệt của từng người.
Đau là triệu chứng dễ bắt gặp trong loét dạ dày.
Đau có liên quan đến các thời kỳ của tiêu hóa, thường hay gặp nhất ở người trẻ tuổi trong thời kỳ bắt đầu phát triển bệnh và thường phụ thuộc vào sự co bóp của môn vị do chất chua của dịch vị tăng lên nhiều.
Dịch vị càng chua bao nhiều thì môn vị càng co bóp mạnh và lâu bấy nhiêu, điều này sẽ làm cho thức ăn bị giữ lại trong dạ dày lâu bấy nhiêu. Loại đau này mất đi sau khi bệnh nhân nôn mửa hay sau khi dịch vị chua đã được trung hòa bằng thuốc muối.
Đau không liên quan đến các thời kỳ tiêu hóa: sau khi lao động mệt nhọc, khi bị xúc động mạnh. Loại đau này phụ thuộc và những kích thích bên ngoài và biểu lộ ra đau dạ dày. Triệu chứng thường mất đi khi người bệnh trở lại yên tĩnh và đã được chườm nóng vùng thượng vị và khi những kích thích bên ngoài cũng biến mất.
Đau ngâm ngẩm thường xuyên, tăng lên hay giảm đi từng thời kỳ, nhưng không bao giờ biến mất cả. Loại đau này thường gặp khi bị loét xơ chai mạn tính hay ổ loét dính vào các cơ quan xung quanh. Đau phát sinh ra bởi sự kích thích thường xuyên các bó thần kinh giao cảm ở các cơ quan ấy.
Loại đau này thường thấy trong lúc ăn hoặc sau khi ăn, và không giảm đi khi uống thuốc muối hay sau khi thức ăn đã trôi xuống tá tràng.
2. Ợ chua:
Ợ chua trong bệnh loét dạ dày chỉ gặp ở những người có dịch vị với độc chua cao. Tuy vậy, trong đại đa số các trường hợp, ở thời kỳ đầu phát triển của bệnh này thường thấy dịch vị có độ chua cao. Chính vì thế, đa số những người bị loét dạ dày đều có triệu chứng ợ chua trong thời kỳ đầu của bệnh.
Ợ chua và đau có liên quan đến các thời kù tiêu hóa là hai triệu chứng gặp bất kỳ ở bệnh nhân nào mới bị loét dạ dày. Hai triệu chứng này thường cùng xuất hiện và mất đi khi uống thuốc muối.
3. Ợ hơi:
Ợ hơi có nhiều tính chất khác nhau:
Ợ chua và ợ hơi có cảm giác mùi tanh sắt gỉ ở miệng thường à triệu chứng đặc biệt của viêm dạ dày tăng acid và của bệnh loét dạ dày ở thời kỳ đầu mới phát triển bệnh.
Ợ hơi có mùi rượu bia vì bị lên men acid lactic trong dạ dày thường là triệu chứng của viêm loét dạ dày giảm HCl.
Ợ hơi, ợ chua đôi khi có kèm theo buồn nôn khiến bạn khó chịu.
4. Buồn nôn và nôn mửa
Triệu chứng này thường gặp lúc đang tiêu hóa thức ăn, khi bị đau nhiều gây co bóp dạ dày phản xạ trong bệnh loét dạ dày cấp tính. Sau khi nôn mửa, thấy đau nhẹ hẳn đi. Triệu chứng này có thể gặp ở thời kỳ cuối cùng của bệnh loét dạ dày do đóng sẹo làm hẹp môn vị, thức ăn bị ứ đọng lại trong dạ dày không qua được môn vị để xuống tá tràng.
Trong các chất nôn ra có thể thấy có cả thức ăn bệnh nhân đã ăn vào từ hôm trước. Nhưng cũng có thể thấy các chất nôn có dính lẫn màu đen sẫm (bã cà phê) – một triệu chứng đặc biệt của biến chứng chảy máu tiêu hóa trong bệnh loét dạ dày.
5. Có thể bị táo bón
6. Ăn ít
Vì sợ đau nhưng không mất cảm giác ngon miệng. Giảm cân.
Bác sĩ dạ dày
09:01 | Nhãn: -viem-da-day, trieu-chung-benh-da-day, viem-loet-da-day | 0 Comments
Viêm loét dạ dày tá tràng nên dùng thuốc nào để điều trị
Hỏi: Công việc của tôi thường xuyên gặp gỡ khách hàng nên cũng không tránh khỏi uống rượu, bia. Tôi thường hay đau vùng thượng vị, sau lan khắp bụng, bụng cứng. Xin hỏi bác sỹ có phải đó là dấu hiệu của bệnh xuất huyết dạ dày? Nếu bị xuất huyết dạ dày tôi phải chữa trị như thế nào? (Trần Thu Trang, Móng Cái)
Trả lời
Xuất huyết dạ dày – hành tá tràng chiếm khoảng 50% số trường hợp xuất huyết đường tiêu hóa trên và là một trong các biến chứng của viêm loét dạ dày – hành tá tràng. Biểu hiện của bệnh tùy thuộc vào mức độ chảy máu nhưng thường gặp là có đau vùng thượng vị hoặc đã có tiền sử viêm lét dạ dày- hành tá tràng, đột nhiên xuất hiện nôn ra máu, đại tiện phân đen, toàn thân có biểu hiện thiếu máu như da xanh, niêm mạc nhợt, mạch nhanh, huyết áp có thể tụt.
Mức độ nặng có thể có dấu hiệu bệnh nhân choáng, ngất hoặc bị ngã thậm chí sốc mất máu. Viêm loét dạ dày - hành tá tràng là bệnh cấp hoặc mãn tính tại niêm mạc dạ dày – tá tràng thường do một hoặc một số nguyên nhân gây ra.
Bạn nên đi khám bệnh để được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, dự phòng biến chứng có thể sảy ra.
1. Nguyên nhân gây bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng
| Hình ảnh dạ dày bình thường Hình ảnh viêm niêm mạc dạ dày qua nội soi |
Bệnh viêm loét dạ dày là một bệnh rất phổ biến trong xã hội hiện nay. Nguyên nhân gây bệnh viêm loét dạ dày – hành tá tràng thì rất nhiều, nhưng chúng ta có thể tổng kết lại trong một số nguyên nhân chính như sau:
Do chế độ ăn, uống
+ Ăn quá nhiều chất kích thích, thức ăn quá chua, quá cay, quá nóng
+ Ăn nhiều chất béo
+ Chế độ ăn thiếu dinh dưỡng kéo dài
+ Uống nhiều rượu, nghiện thuốc lá
+ Ăn vội vàng, nhai không kỹ
+ Rối loạn giờ giấc ăn uống thường xuyên: ăn không đúng bữa, không đúng giờ, ăn quá khuya, lúc ăn thì quá no, lúc thì nhịn đói quá lâu.
Do thuốc & các hóa chất: thường gặp là acid, bụi kim loại, các loại thuốc giảm đau, kháng viêm, corticoid…
Do nhiễm trùng: đặc biệt trong thời đại ngày nay tình hình nhiễm Helicobacter Pylori (HP) rất được các bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa quan tâm, đây là một loại vi khuẩn gam âm, có hình xoắn, là nguyên nhân thường gặp gây ra các bệnh lý ở dạ dày tá tràng.
Do nguyên nhân thần kinh: viêm loét dạ dày thường hay gặp ở những người hay lo lắng, sợ hãi, làm việc quá căng thẳng, gặp ở người sống ở thành thị nhiều hơn ở nông thôn, gặp ở người làm việc trí óc nhiều hơn ở người làm việc chân tay.
Do nguyên nhân nội tiết: đái tháo đường, hạ đường huyết, hội chứng cushing, xơ gan…
2. Chuẩn đoán
Chẩn đoán xác định
- Đau bụng vùng thượng vị có tính chu kỳ.
- Nội soi ống mềm đường tiêu hóa trên được coi là phương pháp chẩn đoán chính xác nhất, có nhiều ưu điểm hơn so với chụp X- quang dạ dày – hành tá tràng. Hiện nay Bệnh viện đa khoa tỉnh đã áp dụng phương pháp nội soi không đau để giảm sự khó chịu cho bệnh nhân.
Chẩn đoán biến chứng
Tùy từng trường hợp cụ thể và các dấu hiệu kèm theo, thầy thuốc sẽ chỉ định thăm khám và các xét nghiệm phù hợp để chẩn đoán các biến chứng có thể gặp như xuất huyết dạ dày – hành tá tràng; thủng dạ dày – hành tá tràng; hẹp môn vị; rò vào các tạng xung quanh...
3. Điều trị bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng
- Mục tiêu của điều trị viêm loét dạ dày, hành tá tràng là làm liền ổ loét, giảm đau và ngăn ngừa biến chứng.
- Nguyên tắc điều trị là không dùng phối hợp các thuốc cùng cơ chế. Điều trị nội khoa là chủ yếu. Chỉ phẫu thuật khi điều trị nội khoa không có kết quả hoặc có biến chứng có chỉ định phẫu thuật.
- Thời gian điều trị từ 4 – 8 tuần/đợt điều trị, có thể kéo dài tùy thuộc từng trường hợp cụ thể.
- Nên kiểm tra nội soi lại sau mỗi đợt điều trị để có đánh giá chính xác tình trạng bệnh.
- Hiện nay, có rất nhiều loại thuốc điều trị viêm loét dạ dày – tá tràng với mục đích điều trị như sau
Giảm yếu tố gây loét.
- Dùng thuốc ức chế bài tiết acid clohydric và pepsin như nhóm ức chế thụ thể Histamin H2 như Cimetidin/Ranitidin/Famotidin/Nizatadin. Nhóm ức chế bơm proton như Omeprazl/ Lansoprazol/ Pantoprazol/ Rabeprazol/ Esomeprazol.
- Dùng thuốc trung hoà acid clohydric đã được bài tiết vào dạ dày – tá tràng là các thuốc có chứa nhôm, calci hoặc magnesi hydroxit.
Tăng cường yếu tố bảo vệ niêm mạc.
- Sucrafat: băng bó ổ loét, ngăn ngừa sự khuyếch tán ngược của ion H+.
- Bismuth: Vừa có tác dụng bảo vệ niêm mạc dày dày, vừa diệt H.pylori.
- Misoprostol có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày, tăng bài tiết dịch nhầy.
Diệt trừ Helicobacter pylori.
- Dùng các kháng sinh diệt H.pylori như Amoxicillin/ Metronidazol/ tinidazol/ Clarithromycin/ Bismuth...
Chế độ ăn
Ngoài việc dùng thuốc điều trị, đối với các bệnh nhân loét dạ dày – tá tràng, chế độ ăn là một phần của các yêu cầu điều trị và một chế độ ăn đúng cũng góp phần tích cực vào kết quả điều trị. Bệnh nhân cần tránh ăn các thức ăn dễ gây kích thích niêm mạc như rượu, các chất gia vị nóng như ớt, hạt tiêu, các chất có nhiều chất chua, chát… Không hút thuốc lá, thuốc lào.
Chế độ làm việc và yếu tố thần kinh, tâm lý
- Bệnh nhân viêm loét dạ dày – tá tràng cần chú ý chế độ làm việc hợp lý, tránh làm việc gắng sức, tránh căng thẳng thần kinh, tránh Stress tâm lý.
Cần lưu ý khám lại sau mỗi đợt điều trị, bác sĩ sẽ đánh giá kết quả điều trị để tư vấn cho bạn một cách hiệu quả nhất.
09:51 | Nhãn: hoi-dap-chia-se, viem-loet-da-day, viem-xung-huyet-hang-vi-da-day | 0 Comments
Chữa viêm loét dạ dày tá tràng bằng vị thuốc Sa Nhân
Viêm loét dạ dày gồm các cơn đau do viêm hoặc loét dạ dày hoặc tá tràng. Bệnh thường biểu hiện qua các triệu chứng đầy bụng, ăn khó tiêu, đau vùng thượng vị, có thể đau lan ra hông sườn, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn. Sa nhân là một trong những vị thuốc điều trị viêm loét dạ dày hiệu quả.
Sa nhân thuộc họ gừng, có nhiều loại, Đông y thường sử dụng chủ yếu là hai loài sa nhân tím và sa nhân trắng vì có giá trị dược liệu cao. Cây mọc hoang ở các tỉnh trung du và miền núi, thường gặp thành vạt lớn ở chỗ ẩm mát, nhiều mùn như thung lũng, ven suối, bờ nương rẫy. Đặc điểm chung là loại cây thảo, sống lâu năm. Lá mọc so le thành hai dãy, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt, lưỡi hẹ mỏng, nhìn qua gần giống cây riềng. Thân rễ mảnh, mọc bò lan, các rễ đan vào nhau thành mạng lưới rất chắc. Mùa ra hoa khoảng tháng 5 – 6, quả hình cầu hoặc hình bầu dục, có gai mềm, hạt hình nhiều cạnh, mùa quả tháng 7 – 8.
Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là quả thu hái vào mùa hè thu. Quả sa nhân chín trong thời gian ngắn khoảng 20 ngày, quả vừa chín màu đỏ hay tím, nhân hạt to mẩy là những quả bóp thấy cay nhiều và nóng, khi tươi hơi chua. Nếu hái quá muộn, chỉ cần để quá 5 – 7 ngày, quả bóc ra đã mềm, nhấm thấy ngọt, chất cay đã hết, đó là sa nhân đường, kém giá trị hơn vì ít tinh dầu, khó bảo quản, dễ bị ẩm mốc. Nhưng nếu hái sớm quá, quả còn non, bóc ra hạt vẫn còn non trắng hay hơi vàng, nhấm thấy cay nhưng không chua, cũng kém giá trị. Để đạt chất lượng dược liệu quả sa nhân hái đúng tuổi phải đựơc chế biến ngay, tránh quả bị thối hỏng, khi hái để cả chùm quả, hoặc phơi sấy trong 5 ngày đêm là được.
Sa nhân là thuốc có vị cay, tính ấm, đi vào 2 kinh tỳ và vị có tác dụng hành khí, hóa thấp, kiện tỳ, ôn trung chỉ tả, an thai. Chủ trị các chứng tỳ vị ứ trệ do thấp trở, tỳ hàn tiết tả (tiêu chảy do tạng tỳ bị lạnh)…
Một số bài thuốc sử dụng sa nhân
Hỗ trợ viêm loét dạ dày mạn tính: Sa nhân 6g; dạ dày lợn 1 cái, dạ dày rửa sạch, thái chỉ, cùng với sa nhân nấu thành món canh; ăn dạ dày và uống nước canh. Dùng 10 ngày một liệu trình.
Chữa lạnh bụng, đầy hơi, tiểu tiện không thông ở phụ nữ có thai: Sa nhân 100g tán nhỏ, vỏ quýt, vỏ vối, vỏ rụt, thanh bì, thần khúc, mạch nha mối thứ 2g tán nhỏ, rây bột mịn, trộn với mật làm viên. Mỗi lần uống với 4g với sắc lá tía tô. Dùng liền 3 – 5 ngày một liệu trình.
Hỗ trợ điều trị lỵ mạn tính, đau bụng tiêu chảy (thể hư hàn): Với biểu hiện bệnh nhân ăn ít, bụng trướng, đau liên miên, chân lạnh, thở yếu, tinh thần uể oải, người mệt mỏi, sắc mặt nhợt nhạt, nhạt miệng, không khát; đại tiện loãng lỏng: Sa nhân 6g, mộc hương 4g, đẳng sâm 10g, bán hạ 10g, bạch truật 10g, phục linh 10g, trần bì 6g, sinh khương 8g, cam thảo 3g; sắc uống trong ngày.
Thai nghén hay nôn: Sa nhân 4g, rễ gai 8g, ích mẫu 6g, hương phụ 4g, mầm cây mía 10g. Tất cả rửa sạch thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần. 5 ngày một liệu trình, tái khám lại.
Hoặc có thể dùng bài sau: Sa nhân sao qua, tán thành bột mịn; mỗi lần uống từ 2 – 4g, ngày 3 lần, uống thuốc bằng nước sắc 5 – 7 lát gừng tươi. Hoặc dùng gạo tẻ 30 – 50g, sa nhân (sao qua, nghiền mịn) 3 – 6g; gạo vo sạch nấu cháo, khi cháo chín cho bột sa nhân vào trộn đều, đun nhỏ lửa thêm một lúc nữa là được. Ăn nóng vào lúc sáng sớm và buổi tối trước khi ngủ.
Lương y Hữu Đức
Bài thuốc đông y chữa bệnh đau viêm dạ dày
Vị quản thống là chỉ đau ở vùng thượng vị. Trong đó bao gồm chủ yếu là đau dạ dầy, ngoài ra còn bao gồm viêm túi mật, sỏi mật
Nguyên nhân đau dạ dày
1- Do bệnh tà phạm vị
+ Do ngoại cảm hàn tà xâm nhập vào Vị
+ Hoặc do ăn uống các thức ăn sống lạnh, hàn tích ở trong làm cho Vị đau.
+ Hoặc do Tỳ Vị đang bị hư hàn lại bị hàn tà xâm nhập gây ra đau.
+ Hoặc do ăn uống không điều độ, no đói thất thường. ăn nhiều thức ăn béo, ngọt sinh ra thấp nhiệt ở trong gây đau.
+ Hoặc do thức ăn uống đình trệ không tiêu hóa được gây đau.
+ Cũng có thể do giun gây đau.
2- Do can khí phạm vị
Do lo nghĩ uất ức làm tổn thương Can (Nộ thương Can), Can khí không sơ tiết được, phạm đến Vị, làm cho Can Vị không điều hòa, khí cơ bị uất trệ gây ra đau.
Hoặc do khí bị uất hóa thành Hỏa, hỏa uất làm tổn thương phần âm, dịch vị bị khô gây ra đau (đau ngày càng tăng hoặc đau liên miên).
3 – Do tỳ vị hư hàn
Do lao động qúa sức, no đói thất thường khiến Tỳ Vị bị tổn thương, Tỳ dương bất túc nên hàn phát sinh gây đau.
Tuy phân ra làm 3 loại như trên nhưng các sách giáo khoa đều thống nhất nguyên nhân chủ yếu là do không thông (thống tắc bất thông – đau là do không thông)
Đông y điều trị đau dạ dày
1. Đau dạ dày do khí trệ
Triệu chứng: Thường gặp trong trường hợp vừa loét dạ dầy vừa loét hành tá tràng, đau vùng thượng vị lan ra sườn, xuyên ra sau lưng, bụng đầy trướng, cự án, ợ hơi, ợ chua, lưỡi đỏ, rêu trắng hoặc vàng mỏng, mạch huyền
Pháp: Hoà can, lý khí ,sơ gan giải uất sơ can hoà vị
| Sài hồ | 8 | Bạch thược | 12 | Chỉ thực | 8 | ||
| Thanh bì | 8 | Mai mực | 12 | Huyền hồ | 8 | Hương phụ | 8 |
| Trích thảo | 4 | Xuyên khung | 8 | ||||
Đơn thuốc: Gia vị tam hương thang. (Thiên gia diệu phương)
| đau dạ dầy khỉ trệ 2 | hương phụ | 25 | Mộc hương | 5 | Hoắc hương | 15 | |
| Trần Bì | 15 | phật thủ | 15 | tam tiên | 45 | lai phục tử | 40-50 |
| Binh lang | 10 | Cam thảo | 10 | ||||
Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Với người tì hư thấp vượng, thêm Bạch truật, Phục linh;
Tì khí hư, thêm Đảng sâm;
Trung tiêu hư hàn, thêm Sa nhân, Thảo đậu khấu;
huyết ứ ở vị, thêm Bồ hoàng, Linh chi;
lưỡi chua, thì thêm Ngoã lăng tử,
vị nhiệt, thêm Sinh thạch cao, Hoàng cầm
ăn uống vẫn bình thường, thì bỏ Tam tiên, Lai phục tử;
vô tâm hạ bĩ (tắc ở bụng trên) thì bỏ Binh lang phiến;
vị âm hư thì giảm các vị lý khí một cách thích đáng, thêm Thiên hoa phấn, Thốn đông.
2. Đau dạ dày do hỏa uất
Triệu chứng: vùng thượng vị đau nhiều, đau nóng rát cự án, miệng khô, ợ chua, đắng miệng, chất lưõi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác
Pháp trị: sơ can tiết nhiệt
| Sài hồ | 8 | Bạch thược | 12 | Chỉ thực | 8 | ||
| Thanh bì | 8 | Chích thảo | 4 | Xuyên khung | 8 | Hương phụ | 8 |
| Mai mực | 12 | Huyền hồ | 8 | ||||
3. Đau dạ dày do huyết ứ
Triệu chứng: đau dữ dội ở vị trí nhất định, cự án, ấn vào đau tăng thêm, ấn vào khó chịu, chia làm hai loại thực chứng và hư chứng
Thực chứng: Nôn ra máu, ỉa phân đen, môi đỏ lưỡi đỏ, rêu lưỡi đỏ mạch huyền sác, hữu lực
Hư chứng: sắc mặt xanh nhợt, người mệt, chân tay lạnh, môi nhạt chất lưỡi bệu, có điểm ứ huyết, rêu lưỡi nhuận, mạch hư đại hoặc tế sác
Pháp trị: lương huyết chỉ huyết
Pháp trị: bổ huyết chỉ huyết
| Đẳng sâm | 16 | Bạch truật | 12 | Bạch linh | 12 | ||
| Cam thảo | 6 | Hoàng kỳ | 12 | A giao | 8 | Qui đầu | 10 |
| Xuyên khung | 10 | Ngũ vị | 6 | Táo nhân | 8 | Bạch thược | 12 |
| Đại táo | 12 | Trần Bì | 6 | Kỉ tử | 12 | Sinh khương | 4 |
| Mật gấu | Mật ong | Sữa chúa | nhung | ||||
Pháp trị: Thông lạc hoạt huyết
| Sinh địa | 40 | Trắc bách diệp | 16 | A giao | 12 | ||
| Cam thảo | 6 | Bồ hoàng | 12 | Chi tử | 8 | ||
châm cứu: can du, tỳ du, thái xung, huyết hải, hợp cốc
nôn ra máu châm tạm cầm máu: nội quan, ,xích trạch túc tam lý, cách du
4. Đau dạ dày do hư hàn
Triệu chứng: Thường hành tá tràng bi loét, đau vùng thượng vị liên miên, nôn nhiều, mệt mỏi thích xoa bóp, chườm nóng, đầy bụng nôn ra nước trong , sợ lạnh, chân tay lạnh, phân nát có lúc táo, rêu lưõi trắng chất lưõi nhạt, mạch hư tế
Pháp trị: ôn trung kiện vị
| Hoàng kỳ | 60 | Quế chi | 12 | Táo | 4q | ||
| Bạch thược | 24 | Cam thảo | 12 | Sinh khương | 12 | Di đường | 50 |
| Lá khôi | 20 | ||||||
5. Đau dạ dày do hàn thấp
Triệu chứng: Vị quản đầy đau khó chịu, ăn không thấy ngon, miệng dính nhớt, đầu mình nặng nề, đại tiện lỏng nhão, hoặc tiết tả, rêu lưõi trắng nhớt, mạch nhu, ăn nhiều đồ sống lạnh, trung dương bị dồn ép, tỳ không vận hoá gây nên
Pháp trị:kiện tỳ hoá thấp,
Bài thuốc: vị linh thang
| Xương truật | 12 | Hậu phác | 10 | Tang bì | 6 | ||
| Trạch tả | 12 | Trư linh | 8 | Cam thảo | 4 | Nhục quế | 4 |
| Bạch truật | 8 | Phục linh | 8 | Sinh khương | 5 nhát | ||
Giảm đau dạ dày với nước biển
Một ngụm nước biển được lấy từ độ sâu 200 mét có thể giúp giải quyết chứng khó tiêu, giảm nguy cơ ung thư và viêm loét dạ dày.
Theo các nhà nghiên cứu Nhật Bản nước biển sâu có chứa hàm lượng cao của các khoáng chất canxi, kali và magiê, có tác dụng tiêu diệt các vi khuẩn Helicobacter pylori, vi khuẩn gây viêm loét dạ dày. Thử nghiệm cũng cho thấy, nước biển sâu có thể ngăn chặn sự tăng trưởng của tế bào ung thư vú. Nó làm ảnh hưởng đến mức độ của một hợp chất gọi là chuyển đổi yếu tố phát triển beta, tham gia vào phát triển tế bào, ngăn ngừa các khối u phát triển hay lan rộng khắp cơ thể.
07:38 | Nhãn: kien-thuc-co-ban-benh-da-day, viem-loet-da-day | 0 Comments
Chữa đau thượng vị dạ dày
Vùng thượng vị tức là vùng trên rốn và dưới mũi xương ức. Đau vùng thượng vị là một triệu chứng rất hay gặp ở một số bệnh thông thường trong cuộc sống hằng ngày. Có loại đau thượng vị chỉ đơn thuần nhưng cũng có loại đau thượng vị thuộc loại kết hợp và đặc biệt có những loại đau thượng vị thuộc loại trọng bệnh, rất nguy hiểm. Nguyên nhân của đau thượng vị rất đa dạng và khó xác định.
Nguyên nhân hay gặp nhất khi đau vùng thượng vị
Đau vùng thượng vị có khi là cấp tính có khi là âm ỉ kéo dài nhiều giờ, nhiều ngày, thậm chí kéo dài nhiều tuần tuỳ theo từng nguyên nhân gây nên bệnh. Điển hình trong đau thượng vị là đau dạ dày mà trong chuyên môn y học thường gọi là hội chứng dạ dày – tá tràng. Cơn đau thượng vị có khi cấp tính như đợt cấp của viêm dạ dày – tá tràng trên một người bệnh đã mắc bệnh về dạ dày từ lâu, nay vì một lý do nào đó làm xuất hiện cơn đau cấp, ví dụ như đau sau khi uống rượu, bia, ăn thức ăn có vị chua như dấm, chanh, bún, bánh cuốn… hoặc bị viêm dạ dày cấp lần đầu do ngộ độc thực phẩm cấp tính. Cơn đau quằn quại, đau nhói, bụng trướng, đôi khi làm cho người bệnh vã mồ hôi, miệng khô, buồn nôn hoặc nôn… Trong trường hợp này nếu nôn được (nôn tự nhiên hay móc họng để nôn) thì cơn đau thượng vị có thể lắng xuống (kể cả trường hợp ngộ độc thực phẩm cấp tính). Đối với viêm dạ dày – tá tràng mạn tính hoặc loét dạ dày – tá tràng hoặc hẹp môn vị thì cơn đau thường âm ỉ, kéo dài gây khó chịu cho người bệnh, làm cho người bệnh hay cáu gắt, bộ mặt lúc nào cũng buồn chán (bộ mặt của người viêm loét dạ dày – tá tràng mạn tính). Đặc biệt của đau vùng thượng vị trong thủng dạ dày thì đau như dao đâm, bụng cứng như khúc gỗ, dáng đi của người bệnh cúi lom khom và bệnh nhân có thể bị choáng. Bệnh của gan hay bệnh của mật (đường dẫn mật, túi mật) cũng gây nên triệu chứng đau thượng vị như áp-xe gan, viêm gan làm cho gan sưng to, đau hoặc suy tim cũng làm gan sưng to do ứ máu ở gan cũng gây đau vùng thượng vị. Sỏi túi mật hoặc sỏi đường dẫn mật hoặc viêm đường mật cũng gây nên đau vùng thượng vị nếu không có kinh nghiệm thì rất dễ chẩn đoán nhầm là bệnh của dạ dày – tá tràng. Một số trường hợp điển hình như giun chui ống mật cũng gây đau vùng thượng vị. Cơn đau vùng thượng vị trong bệnh giun chui ống mật thường đau rất dữ dội, chổng mông lên, vã mồ hôi… Đau vùng thượng vị cũng có thể gặp trong bệnh của tụy như viêm tụy cấp, viêm tụy cấp chảy máu hoặc đôi khi đau thượng vị âm ỉ gặp trong viêm tụy mạn tính, ung thư đầu tụy. Viêm đại tràng cấp hoặc mạn tính cũng có thể gây đau thượng vị kèm theo đầy hơi trướng bụng, đi ngoài nhiều lần nhất là viêm đại tràng cấp tính. Trong một số trường hợp viêm đại tràng mạn tính có kèm theo táo bón kéo dài thường có thể có đau vùng thượng vị một cách âm ỉ, không rầm rộ. Bệnh về tim mạch tuy rất ít nhưng cũng có thể biểu hiện cơn đau vùng thượng vị như bệnh mạch vành (thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim), suy tim nặng gây gan to, tim to… Trong một số trường hợp người bệnh ho nhiều (cả trẻ em cả người lớn) gây co thắt cơ hoành cũng gây đau vùng thượng vị hoặc trong bệnh áp-xe cơ hoành cũng gây nên đau vùng thượng vị. Đau vùng thượng vị cũng có thể gặp ở một số trẻ em bị nhiễm giun gây đau bụng. Đau bụng do giun thường là đau quanh rốn nhưng cũng có trường hợp ngoài đau quanh rốn có kèm theo đau vùng thượng vị. Viêm ruột thừa là bệnh mà nhiều người đều biết rằng triệu chứng điển hình là đau hố chậu phải nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, nhất là trẻ em thì sau khi đau ở thượng vị mới khu trú đau ở vùng hố chậu phải.
Như vậy đau vùng thượng vị là một triệu chứng của nhiều bệnh, có những bệnh có liên quan với nhau nhưng cũng có những bệnh không liên quan với nhau. Triệu chứng có thể là xuất hiện đột ngột mang tính chất cấp tính như ngộ độc thực phẩm, viêm dạ dày cấp, viêm túi mật cấp, thủng dạ dày,viêm tụy cấp… nhưng cũng rất nhiều bệnh mang tính chất đau âm ỉ, kéo dài như viêm, loét dạ dày – tá tràng mạn tính, viêm đại tràng, nhiễm giun, gan to, suy tim…
Khi bị đau vùng thượng vị nên làm gì?
Với rất nhiều nguyên nhân gây đau vùng thượng vị mà ngay cả bác sĩ cũng phải kết hợp nhiều yếu tố mới chẩn đoán đúng bệnh, vì vậy khi bị đau vùng thượng vị nhất là đau lần đầu, mang tính chất dữ dội thì cần đi khám bệnh ngay để đề phòng các biến chứng nguy hiểm đến tính mạng (thủng dạ dày – tá tràng, viêm phúc mạc mật, viêm ruột, thừa, ngộ độc thực phẩm cấp tính…) có thể xảy ra. Những trường hợp bị bệnh mạn tính gây đau vùng thượng vị như bệnh thuộc về dạ dày, bệnh về đường dẫn mật, bệnh về tim mạch, bệnh nhiễm giun… cũng rất cần khám bệnh định kỳ theo lời dặn của bác sĩ để được theo dõi và điều trị hết nguyên nhân càng sớm càng tốt. Hiện nay nhờ sự tiến bộ của khoa học y học cho nên việc chẩn đoán và điều trị các bệnh về dạ dày – tá tràng, bệnh về gan mật, tụy tạng, bệnh do giun, bệnh tim mạch… thuận lợi và chính xác hơn rất nhiều. Điều trị bệnh tốt nhất là phải tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ. Cần có chế độ ăn uống, chế độ sinh hoạt và nghỉ ngơi hợp lý. Một số bệnh gây đau vùng thượng vị cần kiêng khem trong ăn uống như bệnh về dạ dày không nên ăn chua cay, không uống rượu, bia, hạn chế uống cà phê và tuyệt đối không hút thuốc lá hoặc tránh căng thẳng thần kinh. Những bệnh thuộc về hệ tim mạch, gan mật cũng rất cần một chế độ điều trị thích hợp, chế độ ăn uống và nghỉ ngơi hợp lý.
Viêm trượt hang vị dạ dày
Tôi bị chứng viêm trượt hang vị dạ dày này đã hai tháng nay, đã xét nghiệm, nội soi, xác định có viêm trợt hang vị dạ dày, thân vị, bác sĩ đã cho các loại thuốc dạ dày kết hợp với kháng sinh nhưng uống một tuần nay bệnh không hề giảm mà còn rất khó chịu, choáng váng. Kính mong được tư vấn.
Phạm Khắc Toàn
Trả lời của phòng mạch online:
Dạ dày ví như một "nhà kho", bạn ăn bất cứ thứ gì vào nó cũng rơi xuống nhà kho trước. Nơi đây có một loại dịch gọi là "dịch vị" làm nhiệm vụ giống như "cày vỡ" thức ăn. Mỗi ngày dạ dày tiết ra chừng 1,5 đến 2 lít dịch vị.
Dịch vị bao gồm: acid clohydric với độ pH vào khoảng 1,5 tác dụng trực tiếp lên thức ăn làm chúng rắn cũng phải mềm, các thớ thịt nếu ta nuốt vội cũng bị mềm ra. Men pepsin có nhiệm vụ như một lưỡi dao sắc bén cắt các mối nối gọi là peptid để thịt nhuyễn ra giống như bạn cho vào máy xay.
Cùng lúc ấy thì dạ dày chuyển động, co bóp để dịch vị thấm đều, tác dụng hết vào các phần thức ăn. Nếu vậy bạn sẽ hỏi: vậy thì dạ dày cũng là cơ, sao không bị dịch vị "tiêu" luôn? Đúng vậy, bởi dạ dày có một lớp niêm mạc lót bên trong, lớp này tiết ra chất nhầy mucin có tác dụng bảo vệ, chống lại acid. Nếu vì lý do nào đó dạ dày tăng tiết acid, giảm tiết chất nhầy thì thành dạ dày bị tổn thương từ viêm sung huyết, vết trợt và vết loét. Câu chuyện thường là như vậy.
Các nguyên nhân gây tổn thương dạ dày:
- Vi khuẩn Helicobacter pylori: đây là nguyên nhân hàng đầu gây tổn thương dạ dày dẫn đến đầy bụng, khó tiêu là dấu hiệu bạn cảm thấy. Tuy nhiên nếu lấy dịch vị đem soi thì kẻ "nội gián" nằm ngay dưới niêm mạc dạ dày tha hồ đục khoét, tạo ra nhiều tổn thương và là nguyên nhân gây ung thư dạ dày kể cả ở người trẻ.
- Nhiễm độc dạ dày do hóa chất tẩm ướp trong thực phẩm, do rượu bia triền miên, hút thuốc lá làm chất nhầy giảm hẳn, mất khả năng bảo vệ.
- Ăn uống vô tội vạ, giờ giấc linh tinh, bữa no căng rốn, bữa nhịn đói khiến sự bài tiết dịch vị hỗn loạn, mất cân bằng thường tăng tiết acid tạo ra loét.
- Căng thẳng thần kinh làm thần kinh phế vị (đi vào dạ dày) bị kích thích làm tăng tiết dịch vị gây ra tổn thương viêm loét.
- Một số thuốc như aspirin, corticoid, ibuprofen có thể gây ra kích ứng gây viêm dạ dày cấp.
Trở lại vấn đề của bạn. Nếu bác sĩ soi dạ dày thông báo có vết trợt ở vùng hang vị thì cần thêm một bước xác định có vi khuẩn không. Khi tìm ra thủ phạm là vi khuẩn thì kháng sinh điều trị sẽ hữu hiệu. Trong y học việc tìm nguyên nhân hay ta gọi là thủ phạm đích thực mới giúp bác sĩ điều trị đúng.
Trong những điều tôi liệt kê ở trên bạn nên rà soát xem mình vướng vào nguyên nhân nào để từ bỏ (rượu, bia, thuốc lá, cách ăn uống..). Chỉ có như vậy mới mong điều trị có kết quả.
Chữa bệnh viêm trượt hang vị dạ dày - hỏi đáp
Chào mọi người !
Mình bị viêm trượt hang vị dạ dày được 3 tháng nay rồi ăn uống rất khổ sở, hết đầy hơi rồi ợ chua, mới được 3 tháng mà cân nặng của mình tụt trông thấy. hôm đi khám ở bệnh viện 108 nội soi thì kết quả là mình bị viêm trượt hang vị dạ dày, sau các bác sĩ kê đơn thuốc về cho mình uống tại nhà mà giờ mình uống tới hết thuốc mà tình trạng bệnh vẫn không có gì khả quan cả , hôm nay mình có vào tìn hiểu thông tin trên các trang mạng thì được biết lương y Nguyễn Hữu Toàn chữa bệnh dạ dày cũng rất được nhưng mình vẫn phân vân quá vì mình uống thuốc thuốc của bệnh viện lớn như bệnh viện 108 mà còn không ăn thua không biết đến chữa tại phòng khám bác Nguyễn Hữa Toàn này có ăn thua không nữa, qua ban biên tập Bác Sĩ Dạy Dày mình muốn hỏi xem mọi người ai đã từng chữa trị bệnh đau dạ dày tại phòng khám đông y Nguyễn Hữu Toàn tại hải phòng chưa có thể chia sẻ cho mình chút ít kinh nghiệm để mình tham khảo, mình đang là sinh viên nên không có nhiều tiền nên mình muốn tìm hiểu thật kĩ mong mọi người thông cảm nha. Cmả ơn mọi người rất nhiều !
Độc giả: Nguyễn Viết Chung
10:34 | Nhãn: hoi-dap, hoi-dap-chia-se, viem-loet-da-day, viem-xung-huyet-hang-vi-da-day | 0 Comments
Chữa bệnh viêm dạ dày bằng đu đủ
Nhà thám hiểm Christophe Columbus đã tôn vinh đu đủ là “chúa tể” của các loài quả bởi không chỉ thơm ngon, mà còn có tác dụng chữa bệnh rất tốt.
Ngay từ khi phát hiện ra châu Mỹ, nhà thám hiểm lừng danh Christophe Columbus đã tôn vinh đu đủ là “chúa tể” của các loài quả (fruit of the angels) bởi nó có hương vị thơm ngon, dễ ăn và có tác dụng chữa bệnh rất tốt. Một trong những hợp chất hàng đầu của đu đủ là papain, đây là loại enzyme có lợi cho hệ thống tiêu hóa của con người, hạn chế virus, vi khuẩn gây bệnh.
Ngay từ khi phát hiện ra châu Mỹ, nhà thám hiểm lừng danh Christophe Columbus đã tôn vinh đu đủ là “chúa tể” của các loài quả (fruit of the angels) bởi nó có hương vị thơm ngon, dễ ăn và có tác dụng chữa bệnh rất tốt. Một trong những hợp chất hàng đầu của đu đủ là papain, đây là loại enzyme có lợi cho hệ thống tiêu hóa của con người, hạn chế virus, vi khuẩn gây bệnh.
![]() |
| Đu đủ thu gom độc tố của dạ dày |
Tác dụng bảo vệ tim mạch
Theo rất nhiều nghiên cứu đu đủ có tác dụng tốt trong việc phòng ngừa bệnh tim mạch ở những người mắc bệnh đái tháo đường, bệnh xơ vữa động mạch, vì đu đủ có chứa nhiều chất chống oxy hóa như vitamin C, E và A.
Các dưỡng chất này có tác dụng ngăn ngừa quá trình oxy hóa cholesterol, hạn chế các mảng tiểu cầu do quá trình oxy hóa cholesterol tạo ra bám vào thành mạch máu, gây tắc nghẽn mạch và làm máu không lưu thông được. Vitamin E và C của đu đủ kết hợp tạo ra hợp chất có tên là paraoxonase, hay còn gọi là enzyme, có thể ức chế quá trình oxy hóa tạo ra các cholesterol xấu (LDL).
Ngoài ra, đu đủ còn là loại quả giàu chất xơ nên có tác dụng làm giảm mỡ máu (cholessterol), riêng acid folic có trong đu đủ có tác dụng làm chuyển hóa homocysteine thành acid amino cần thiết như cysteine hoặc methionine. Nếu không được chuyển hóa thì homocysteine có thể gây phá hủy trực tiếp các mạch máu, thậm chí nếu cao, có thể gây bệnh đau tim hoặc đột quỵ.
Tăng cường sức khỏe cho hệ tiêu hóa
Từ lâu, khoa học đã nghiên cứu và phát hiện thấy ăn đu đủ có tác dụng tốt trong việc ngăn ngừa bệnh ung thư kết tràng. Chất xơ có trong đu đủ có thể “thu gom” các độc tố gây bệnh trong kết tràng và bảo vệ tế bào khỏe mạnh trước nguy cơ bị nhiễm bệnh.
Ngoài ra, trong đu đủ còn có chứa các dưỡng chất như: folate, vitamin C, beta-carotene, vitamin E có tác dụng giảm thiểu bệnh ung thư kết tràng, đặc biệt là ngăn ngừa sự tấn công của các gốc tự do gây tổn thương ADN. Vì vậy, tăng cường ăn đu đủ cũng là biện pháp phòng ngừa ung thư kết tràng rất tốt cho mọi người.
Thuốc chống viêm nhiễm
Trong đu đủ có chứa 2 hợp chất quan trọng có tên là papain và chymopapain, đây là 2 loại enzyme tiêu hóa protein hiệu quả, có tác dụng làm giảm quá trình viêm nhiễm và làm lành các chấn thương.
Ngoài ra, đu đủ còn có chứa nhiều vitamin C, E và betacarotene nên có tác dụng phòng ngừa viêm nhiễm ở mức cao nhất, bởi vậy những người bị bệnh hen suyễn, thấp khớp thường được bác sĩ kê đơn cho dùng các dưỡng chất nói trên.
Tăng cường sức đề kháng
Vitamin C và A do đu đủ cung cấp cho cơ thể sẽ giúp hệ miễn dịch làm việc tốt hơn, nhất là nguy cơ phòng chống các loại bệnh thường xuất hiện khi giao mùa như: cảm, cúm, viêm tai…
Ngăn ngừa nguy cơ thoái hóa điểm vàng
Trên tạp chí Nhãn khoa (AOO) của Hoa Kỳ số ra đầu năm 2009, đã khuyến cáo người ta nên ăn 3 suất rau xanh hoa quả mỗi ngày (mỗi suất tương đương 1 bát nhỏ), sẽ giảm được nhiều nguy cơ mắc bệnh thoái hóa điểm vàng có liên quan đến tuổi tác (AMRD). Cụ thể làm giảm được tới 36% nguy cơ so với những người chỉ ăn 1 – 1,5 suất. Loại hoa quả tốt nhất có thể ngăn ngừa bệnh ARMD bao gồm: cà rốt, đu đủ vì đây là loại quả có chứa nhiều vitamin C, A, E, carotenoid, chất chống oxy hóa. Có thể chế biến đu đủ dưới dạng xa lát, nước ép hoặc ăn trực tiếp.
Giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp
Mặc dù sử dụng liều cao vitamin C có thể làm tăng nguy cơ bệnh loãng xương nhưng vitamin C có trong thực phẩm, đặc biệt là trong đu đủ lại có tác dụng bảo vệ cơ thể trước nguy cơ mắc bệnh polyarthiritis, một dạng bệnh viêm khớp dạng thấp. Kết luận trên được dựa theo nghiên cứu với hơn 20.000 người sử dụng vitamin C có trong đu đủ và phát hiện thấy có tác dụng rất cao trong việc ngăn ngừa viêm nhiễm gây đau nhức ở người bệnh.
Tăng cường chức năng phổi
Những người nghiện hút thuốc lá hoặc phải sống trong môi trường có khói thuốc (hút thuốc thụ động) thì nên bổ sung thực phẩm giàu vitamin A, trong đó có đu đủ. Nghiên cứu của các chuyên gia ở Đại học Kansas (Hoa Kỳ) cho thấy, đây là dưỡng chất có tác dụng ngăn ngừa bệnh viêm nhiễm phổi và bệnh khí phế thũng (enphysema) do hợp chất carcinogen trong khói thuốc lá và benzopyrene trong khói thuốc lá gây ra, nó làm tăng nguy cơ thiếu hụt vitamin A ở con người, nhất là ở nhóm người cao tuổi.
Theo rất nhiều nghiên cứu đu đủ có tác dụng tốt trong việc phòng ngừa bệnh tim mạch ở những người mắc bệnh đái tháo đường, bệnh xơ vữa động mạch, vì đu đủ có chứa nhiều chất chống oxy hóa như vitamin C, E và A.
Các dưỡng chất này có tác dụng ngăn ngừa quá trình oxy hóa cholesterol, hạn chế các mảng tiểu cầu do quá trình oxy hóa cholesterol tạo ra bám vào thành mạch máu, gây tắc nghẽn mạch và làm máu không lưu thông được. Vitamin E và C của đu đủ kết hợp tạo ra hợp chất có tên là paraoxonase, hay còn gọi là enzyme, có thể ức chế quá trình oxy hóa tạo ra các cholesterol xấu (LDL).
Ngoài ra, đu đủ còn là loại quả giàu chất xơ nên có tác dụng làm giảm mỡ máu (cholessterol), riêng acid folic có trong đu đủ có tác dụng làm chuyển hóa homocysteine thành acid amino cần thiết như cysteine hoặc methionine. Nếu không được chuyển hóa thì homocysteine có thể gây phá hủy trực tiếp các mạch máu, thậm chí nếu cao, có thể gây bệnh đau tim hoặc đột quỵ.
Tăng cường sức khỏe cho hệ tiêu hóa
Từ lâu, khoa học đã nghiên cứu và phát hiện thấy ăn đu đủ có tác dụng tốt trong việc ngăn ngừa bệnh ung thư kết tràng. Chất xơ có trong đu đủ có thể “thu gom” các độc tố gây bệnh trong kết tràng và bảo vệ tế bào khỏe mạnh trước nguy cơ bị nhiễm bệnh.
Ngoài ra, trong đu đủ còn có chứa các dưỡng chất như: folate, vitamin C, beta-carotene, vitamin E có tác dụng giảm thiểu bệnh ung thư kết tràng, đặc biệt là ngăn ngừa sự tấn công của các gốc tự do gây tổn thương ADN. Vì vậy, tăng cường ăn đu đủ cũng là biện pháp phòng ngừa ung thư kết tràng rất tốt cho mọi người.
Thuốc chống viêm nhiễm
Trong đu đủ có chứa 2 hợp chất quan trọng có tên là papain và chymopapain, đây là 2 loại enzyme tiêu hóa protein hiệu quả, có tác dụng làm giảm quá trình viêm nhiễm và làm lành các chấn thương.
Ngoài ra, đu đủ còn có chứa nhiều vitamin C, E và betacarotene nên có tác dụng phòng ngừa viêm nhiễm ở mức cao nhất, bởi vậy những người bị bệnh hen suyễn, thấp khớp thường được bác sĩ kê đơn cho dùng các dưỡng chất nói trên.
Tăng cường sức đề kháng
Vitamin C và A do đu đủ cung cấp cho cơ thể sẽ giúp hệ miễn dịch làm việc tốt hơn, nhất là nguy cơ phòng chống các loại bệnh thường xuất hiện khi giao mùa như: cảm, cúm, viêm tai…
Ngăn ngừa nguy cơ thoái hóa điểm vàng
Trên tạp chí Nhãn khoa (AOO) của Hoa Kỳ số ra đầu năm 2009, đã khuyến cáo người ta nên ăn 3 suất rau xanh hoa quả mỗi ngày (mỗi suất tương đương 1 bát nhỏ), sẽ giảm được nhiều nguy cơ mắc bệnh thoái hóa điểm vàng có liên quan đến tuổi tác (AMRD). Cụ thể làm giảm được tới 36% nguy cơ so với những người chỉ ăn 1 – 1,5 suất. Loại hoa quả tốt nhất có thể ngăn ngừa bệnh ARMD bao gồm: cà rốt, đu đủ vì đây là loại quả có chứa nhiều vitamin C, A, E, carotenoid, chất chống oxy hóa. Có thể chế biến đu đủ dưới dạng xa lát, nước ép hoặc ăn trực tiếp.
Giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp
Mặc dù sử dụng liều cao vitamin C có thể làm tăng nguy cơ bệnh loãng xương nhưng vitamin C có trong thực phẩm, đặc biệt là trong đu đủ lại có tác dụng bảo vệ cơ thể trước nguy cơ mắc bệnh polyarthiritis, một dạng bệnh viêm khớp dạng thấp. Kết luận trên được dựa theo nghiên cứu với hơn 20.000 người sử dụng vitamin C có trong đu đủ và phát hiện thấy có tác dụng rất cao trong việc ngăn ngừa viêm nhiễm gây đau nhức ở người bệnh.
Tăng cường chức năng phổi
Những người nghiện hút thuốc lá hoặc phải sống trong môi trường có khói thuốc (hút thuốc thụ động) thì nên bổ sung thực phẩm giàu vitamin A, trong đó có đu đủ. Nghiên cứu của các chuyên gia ở Đại học Kansas (Hoa Kỳ) cho thấy, đây là dưỡng chất có tác dụng ngăn ngừa bệnh viêm nhiễm phổi và bệnh khí phế thũng (enphysema) do hợp chất carcinogen trong khói thuốc lá và benzopyrene trong khói thuốc lá gây ra, nó làm tăng nguy cơ thiếu hụt vitamin A ở con người, nhất là ở nhóm người cao tuổi.
Giảm cơn đau dạ dày bằng việc xoa bụng đúng cách
Những khi cơn đau bụng "gõ cửa", chị Trang cố gắng dừng tạm công việc đang dở dang và ngồi tại chỗ tự xoa bụng khoảng 30 vòng ngược chiều kim đồng hồ.Chủ quan nhầm lẫn giữa bệnh tiêu hóa và dạ dày
Áp lực từ công việc khiến chị Nguyễn Trang (26 tuổi, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam) thường xuyên lâm vào trình trạng stress, mất ngủ trong thời gian dài.
Trang chia sẻ, ban đầu chị có cảm giác chán ăn, đầy bụng, khó chịu, buồn nôn... Cũng bởi những triệu chứng không rõ rệt này thường rất khó phân biệt với các bệnh tiêu hóa khác nên chị có tâm lý chủ quan và bỏ qua.
Vì vậy mà chị Trang cũng không chú ý cải thiện chế độ ăn uống cũng như giảm căng thẳng trong công việc. Thậm chí có hôm chị còn làm việc tới 15 tiếng đồng hồ nên bệnh càng nặng thêm với những triệu chứng điển hình như các cơn đau nhói, co thắt vùng bụng.
Khi liên tục phải “đón nhận” những cơn đau thắt dữ dội, chị Trang mới đi khám. Lúc này chị mới biết mình đã bị đau dạ dày. Bác sĩ giải thích rằng việc thường xuyên căng thẳng thần kinh như trường hợp của chị cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới các vấn đề về dạ dày.
Và theo lời bác sĩ nói thì rất nhiều chị em dân văn phòng mắc phải tình trạng này. Khi thần kinh bị căng thẳng, áp lực sẽ làm tăng tiết nhiều axit HCl, một trong những nhân tố làm tổn hại niêm mạc, gây viêm và loét dạ dày.
Từ khi áp dụng theo hàng loạt phương pháp, Trang thấy những cơn đau dạ dày giảm hẳn đi.
Từ khi biết mình bị bệnh dạ dày, bố mẹ và bản thân chị Trang đã tìm hiểu những phương cách để giữ gìn sức khỏe. Và chị cũng tự nghiệm ra rằng có những bí quyết nhỏ nhưng tác dụng rất lớn trong việc "điều trị" căn bệnh dạ dày của mình.
Lên lịch ăn uống, sắp xếp công việc hợp lý
Hàng ngày,. chị Trang không quên uống một vài thìa nghệ mật ong. Chị chia sẻ: “Sau một thời gian lên lịch ăn uống và dùng nghệ mật ong, mình thấy đỡ hẳn”.
Nghệ có tác dụng chống loét dạ dày, giảm tiết dịch vị và nhờ tinh dầu nghệ có tính kiềm nên giúp làm giảm độ axit của dịch vị, nghệ còn có tác dụng chống viêm và làm lành vết loét. Mật ong cũng có tác dụng làm êm dịu tránh kích ứng ở dạ dày.
Một mẹo khác mà chị Trang thường áp dụng để hỗ trợ giảm đau đó là chườm nóng. Trang nói: "Mọi loại đau dạ dày đều có thể áp dụng bằng chườm nóng. Nếu ở cơ quan, mình có thể lấy một cái vỏ chai nước cho nước nóng vào hoặc khăn tắm ngâm nước nóng chườm vào bụng. Nếu ở nhà thì cầu kỳ hơn, mình có thể làm gạo rang nóng rực cho vào túi chườm và chườm. Nhiệt không chỉ tạo cảm giác thoải mái nhẹ nhàng mà còn giúp tăng cường lưu thông và cải thiện lưu lượng máu tới vùng bụng, từ đó giảm đau và tiêu hóa được tốt hơn".
Một cách nữa mà chị áp dụng chính là… xoa bụng. Những khi cơn đau bụng "gõ cửa", chị Trang cố gắng dừng tạm công việc đang dở dang và ngồi tại chỗ tự xoa bụng khoảng 30 vòng ngược chiều kim đồng hồ. “Cách này rất đơn giản nhưng mang lại hiệu quả rất lớn. Lúc đó mình cố gắng thở sâu hơn. Nếu cơn đau dữ dội, mình thường dùng tay cái ấn mạnh vào điểm đau ở bụng, nếu thấy dễ chịu tiếp tục ấn đến khi giảm đau".
Nguyên nhân mấu chốt gây ra các cơn đau dạ dày của chị Trang chính là sự căng thẳng do công việc mang lại, vì thế ngoài những cách "tẩm bổ", chăm sóc sức khỏe như trên, chị Trang còn lên một lịch làm việc cụ thể, sắp xếp từng đầu việc một cách khoa học để giảm tải thời gian làm việc, ngăn ngừa căng thẳng. Chị cũng dành nhiều thời gian để nghỉ ngơi, thư giãn và đi du lịch để được thoải mái nhằm mục đích "chào tạm biệt" căn bệnh khó chịu này.
Nếu bạn cũng muốn khỏe mạnh như chị Nguyễn Trang, hãy chọn cho mình một cách làm giảm đau dạ dày phù hợp nhé.
Bệnh dạ dày với những bệnh thường gặp
Áp lực từ công việc, căng thẳng trong cuộc sống, chế độ ăn uống bất hợp lý, đều có ảnh hưởng lớn đến khả năng hoạt động tự nhiên của cơ thể, gây ra các bệnh về dạ dày.
Các bệnh về dạ dày phổ biến nhất là bệnh viêm loét dạ dày và trào ngược dạ dày.
Viêm loét dạ dày - tá tràng
Nhiều năm chạy chữa bệnh đau dạ dày không khỏi, chị Loan nhân viên kế toán của một công ty liên doanh nước ngoài ở Đông Anh, Hà Nội vẫn phải sống chung với tình trạng đau thượng vị, ợ hơi.
Do đặc thù công việc, chị phải chịu nhiều áp lực, ăn uống thất thường, không có giờ giấc. Có những hôm nhiều việc chị thường xuyên bỏ bữa hoặc chỉ ăn cái bánh mỳ lót dạ. Chính vì chế độ sinh hoạt thiếu điều độ, mât cân bằng nên bộ máy tiêu hóa xuất hiện những triệu chứng khó tiêu, đau thượng vị.
Chủ quan chị tự mua men tiêu hóa về uống mỗi khi thấy đầy bụng, khó tiêu. Nhưng cũng chính vì chị để tình trạng này kéo dài nên bệnh ngày càng nặng, lúc đói hay ăn hơi quá một tý dạ dày lại đau quặn. Đến cơ sở y tế khám chị được chẩn đoán loét dạ dày - tá tràng.
Trong cuộc sống hiện đại, những trường hợp như chị Loan không hiếm, thậm chí còn khá phổ biến, đăc biệt là người làm việc văn phòng.
Khi bị loét dạ dày - tá tràng thường có dấu hiệu ban đầu là ợ hơi, ợ chua, chậm tiêu hóa… đau thượng vị theo chu kỳ, rõ ràng nhất là khi ăn thức ăn chua, cay hay khi bị căng thẳng thần kinh. Đặc biệt, nếu không chữa trị kịp thời bệnh nặng sẽ dần chuyển sang mạn tính rất khó điều trị và dễ gây biến chứng như xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày - tá tràng, hẹp môn vị…
| Bệnh dạ dày |
Trào ngược dạ dày - thực quản
Không phổ biến như viêm loét dạ dày - tá tràng nhưng trào ngược dạ dày - thực quản cũng có khuynh hướng gia tăng nhanh theo lối sống hiện đại, công nghiệp hóa.
Chị Minh Phương ở Gia Lâm, Hà Nội lo lắng đi khám bác sĩ vì suốt thời gian dài chị mắc chứng ợ nóng, ợ chua, nôn mửa rất khó chịu. Không những thế, chị còn mắc chứng khó nuốt, chị luôn có cảm giác thức ăn, nước uống mắc nghẹn ở ức ngay khi nuốt... ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe. Bác sĩ cho biết chị bị trào ngược dạ dày - thực quản cần điều trị ngay tránh diễn biến xấu, phức tạp.
Bệnh trào ngược dạ dày - thực quản là tình trạng trào ngược từng lúc hay thường xuyên các chất từ dạ dày lên thực quản, bệnh không chỉ gây khó chịu cho bệnh nhân mà còn có nguy cơ gây ra những biến chứng nặng nề như loét, hẹp, chảy máu thực quản, thậm chí dẫn tới ung thư. Việc chẩn đoán sớm, điều trị hợp lý và kịp thời giúp giảm thiểu biến chứng nguy hiểm.
Với các triệu chứng điển hình như ợ nóng, ợ chua, nôn, khó nuốt dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác ở bộ máy tiêu hóa việc xác định đúng bệnh rất quan trọng. Những người uống rượu, hút thuốc, ăn thức ăn nhiều gia vị, mỡ, cà phê, sô-cô-la; người béo phì, đái tháo đường, phụ nữ có thai... nguy cơ bị trào ngược dạ dày - thực quản cao hơn.
Chủ động phòng các bệnh lý của dạ dày
Dạ dày là cơ quan tiêu hoá trực tiếp xử lý thức ăn hàng ngày, dạ dày bị tổn thương không chỉ làm xáo trộn mọi sinh hoạt còn làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nguy hiểm.
Theo Ths.bs Trần Thị Khánh Tường, bộ môn Nội, Đại học Y Hà Nội nên phòng bệnh hơn chữa bệnh. Dù công việc bận rộn cũng cần sắp xếp thời gian biểu phù hợp và tạo thói quen sinh hoạt khoa học.
Chú ý chế độ ăn uống: Ăn đúng giờ, không được bỏ bữa, khoảng cách giữa các bữa ăn khoảng 5 giờ đồng hồ, không ăn quá no, không nên ăn quá nhiều vào buổi tối, không nên vừa ăn vừa uống nước, đọc báo hay xem tivi. Ăn chậm, nhai kỹ và đừng vội vận động ngay sau bữa ăn, thư giãn khoảng 30 phút rồi mới vận động.
Kiêng uống các đồ uống có vị chua, rượu bia, không hút thuốc lá, uống các chất kích thích… Ăn canh sau mỗi bữa ăn rất có lợi cho sức khỏe vì canh có thể giúp "làm sạch" khoang miệng, thực quản, dạ dày, ruột… giúp thức ăn tiêu hóa dễ dàng.
Nếu đã bị bệnh, bệnh nhân nên chia bữa ăn thành nhiều bữa nhỏ (4 - 5 bữa/ngày), chọn loại thực phẩm mềm, dễ tiêu như sữa, bột… để giúp dạ dày tiêu hóa tốt. Không nên ăn trái cây khô, lương thực khô gây khó tiêu, tránh thức ăn cay, chua kích thích dạ dày… đặc biệt, cần tránh để cơ thể mệt mỏi, căng thẳng.
Theo Bác sĩ dạ dày
Xuất huyết dạ dày với những nguyên nhân và triệu chứng, phòng ngừa
Xuất huyết dạ dạ dày nếu không điều trị kịp thời có thể gây biến chứng nguy hiểm, có thể ảnh hưởng đến tính mạng do mất máu quá nhiều.
I. Nguyên nhân
Xuất huyết dạ dày là một bệnh lý cấp tính hậu quả của các tổn thương viêm loét dạ dày cấp hoặc mãn tính
Xuất huyết dạ dày thường xảu ra sau khi bệnh nhân uống rượu, vô tình hoặc cố ý uống phải dung dịch acid hoặc kiềm, stress căng thẳng quá độ, dùng một số thuốc giảm đau chống viêm (aspirin, corticoid, thuốc chống đông máu)
Xuất huyết dạ dày cũng có thể gặp trên bệnh nhân có bệnh lý tăng áp lực tĩnh mạch cửa do xơ gan, ung thư dạ dày, Do các bệnh máu như Bệnh bạch cầu, Bệnh suy tuỷ xương, Bệnh máu chậm đông, Bệnh máu chảy lâu, xuất huyết giảm tiểu cầu : một số bệnh máu do những cơ chế khác nhau có thể chảy máu ở nhiều nơi: chân răng, mũi, dưới da, ruột, niêm mạc dạ dày…
II. Triệu chứng
Khi bị xuất huyết dạ dày, triệu chứng đầu tiên là đau dữ dội vùng thượng vị, sau lan khắp bụng, bụng cứng, toát mồ hôi, bệnh nhân bị tái xanh, nôn ra máu, đi ngoài phân đen…
Nôn máu là triệu chứng điển hình. Trước khi nôn, người bệnh thấy nôn nao. Khó chịu, lợm giọng, buồn nôn và nôn. Có khi nôn ra rất nhiều và nhanh chóng không dấu hiệu báo trước. Máu có thể còn tươi nếu máu chảy ra được nôn ngay. Máu đen lẫn máu cục và thức ăn vì máu chảy ra còn đọng ở dạ dày một thời gian mới nôn ra. Chất nôn có màu nâu, hồng: khi máu chảy ít đọng lại lâu trong dạ dày, bị hoà loãng và thay đổi bởi dịch dạ dày và thức ăn.
Đôi khi bệnh nhân không có nôn mà chỉ có đại tiện phân đen. Phân đen như bã cà phê, mùi khẳm do máu đã được tiêu hóa một phần. Trường hợp chảy máu nhiều, phân thường loãng, có nước màu đỏ xen lẫn với phân lổn nhổn đen mùi khắm. Nếu chảy máu ít hơn, phân vẫn thành khuôn, màu đen giống nhựa đường, mùi khắm.
III. Tiến triển và biến chứng
Tuỳ theo số lượng máu và thời gian chảy máu mà ảnh hưởng đến toàn trạng người bệnh có khác nhau.
Nếu nhẹ, máu chảy ra ít, khoảng vài chục đến vài trăm mililit khối. Người bệnh chỉ thấy hơi mệt mỏi, không có thay đổi rõ rệt về toàn trạng, mạch, huyết áp.
Nếu lượng máu ra nhiều trong một thời gian ngắn sẽ xuất hiện tình trạng mất máu cấp tính: Chóng mặt, hoa mắt, Vã mồ hôi, lạnh chân tay, da niêm mạc nhạt, Mạch nhanh nhỏ, khó bắt, Huyết áp hạ, Thở nhanh, có khi sốt nhẹ, Đái ít, có khi vô niệu, có khi nguy hiểm đến tính mạng người bệnh.
Chảy máu ít nhưng kéo dài: tuy không gây nên tình trạng mất máu cấp tính nhưng dẫn đến tình trạng thiếu máu: da niêm mạc nhợt nhạt, nhọc mệt, suy tim do thiếu máu…
III. Điều trị
Sơ cứu tại chỗ: Giữ bệnh nhân nằm yên trên giường ở tư thế đầu thấp chân cao, sinh hoạt ngay tại giường. Nếu cần, ủ ấm cho bệnh nhân
Đông y quy chứng này về Vị quản thống thể Huyết ứ, Phép trị là Lương huyết chỉ huyết, bổ huyết, thông lạc hoạt huyết
IV. Dinh dưỡng, Chế độ ăn
Dinh dưỡng có vai trò quan trọng trong điều trị, phục hồi sức khỏe cho bệnh nhân. Chế độ ăn nhằm mục đích: Bảo vệ niêm mạc dạ dày, Giảm tiết acid dịch vị, Nương nhẹ chức năng dạ dày ruột, Đề phòng thiếu dinh dưỡng.
* Sử dụng các loại thực phẩm có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày và chống tăng tiết acid dịch vị.
- Thức ăn giảm tiết acid dịch vị: mật ong, đường, bánh quy, dầu thực vật…
- Thức ăn trung hòa acid dịch vị: sữa, trứng.
- Thức ăn bọc hút niêm mạc dạ dày, ít mùi vị: gạo nếp, bột sắn, khoai, bánh mỳ.
- Ít xơ sợi: rau củ non.
- Đồ uống: nước chín, nước chè loãng.
- Chế biến thức ăn nên hấp luộc, nấu chín hầm nhừ, nghiền nát hoặc xay nhuyễn để giảm kích thích tiết dịch vị và được vận chuyển nhanh qua dạ dày.
* Hạn chế hoặc không sử dụng thức ăn, nước uống gây kích thích niêm mạc dạ dày.
- Các loại nước sốt, nước luộc thịt, dăm bông, lạp xường, xúc xích.
- Thức ăn cứng dai, nhiều xơ sợi: Thịt có gân, sụn, rau sống, rau quả nhiều chất xơ.
- Thức ăn chua, dưa cà, hành muối, hoa quả chua.
- Gia vị, dấm ớt, tỏi, hạt tiêu.
- Rượu, chè, cà phê đặc.
* Cách ăn uống để tránh kích thích niêm mạc dạ dày.
- Chia thức ăn làm nhiều bữa trong ngày để nương nhẹ chức năng tiêu hóa của dạ dày.
- Ăn điều độ, không để quá đói hoặc ăn quá no.
- Không ăn thức ăn quay, rán,
- Thức ăn không quá nóng hoặc quá lạnh vì làm cho dạ dày co bóp mạnh.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)










